"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Sáu, ngày 03 tháng 8 năm 2012

Diễn đạt "May mắn là ..." "Đáng tiếc là ..."

Bài này SAROMA JCLASS giới thiệu với các bạn cách diễn đạt "May mắn là ...", "Đáng tiếc là ..." trong tiếng Nhật. Trong cuộc sống chúng ta hay nói:
- May mắn là tôi đã được nhiều người giúp đỡ.
- Thật đáng tiếc là tôi đã bỏ lỡ cơ hội tốt nhất.
- Thật xui xẻo khi tôi không thể kiếm đủ tiền để đi du học.
- Thật bất hạnh là tôi đã phá sản.

Đây là cách nói tương ứng trong tiếng Nhật:
  • May mắn là ... = 幸いなことに saiwai-na koto ni (幸い saiwai là tính từ Aな)
  • Đáng tiếc là ... = 残念なことに zannen-na koto ni(=残念ながら zannen-nagara)
  • Thật xui xẻo là ... = 不運なことに fu'un-na koto ni(=不運にも)
  • Thật bất hạnh là ... = 不幸なことに fukou-na koto ni
  • Thật ngạc nhiên là ... = 驚いたことに odoroita koto ni / 驚くことに odoroku koto ni (驚く Vdic. = ngạc nhiên /động từ/)
  • Thật đáng sợ là ... = 恐ろしいことに osoroshii koto ni (恐ろしい là tính từ Aい)
  • Đáng buồn là ... = 悲しいことに kanashii koto ni (悲しい là tính từ Aい)

Giải thích ngữ nghĩa
Khi chúng ta nói là "May mắn là ...", "Đáng buồn là ..." thì chúng ta kể cảm xúc của chúng ta trước, sau đó kể lại sự việc gây ra cảm xúc đó. Ở đây chúng ta nhấn mạnh vào cảm xúc trước một sự việc nào đó, nên không thể đảo cảm xúc này ra sau được. Nếu đảo cảm xúc ra sau thì nó sẽ mất đi tính cảm thán và sẽ thành một câu chuyện rất bình thường và dài dòng. Ví dụ nói "Tôi được nhiều người giúp đỡ, tôi cảm thấy rất may mắn" thì sẽ khá dài dòng và không có điểm nhấn.
Trong tiếng Nhật, chúng ta dùng "~ことに" để diễn tả sự việc tiếp theo đã gây ra cảm xúc như thế nào trong chúng ta. Ở đây "koto" có vai trò danh từ (N) và đứng trước nó có thể là động từ hay tính từ.

Công thức chung
Tiếng Việt:
[Tính từ] là / Thật [tính từ] là
Tiếng Nhật:
Aな/Aい + ことに
Vた/Vdic. + ことに
Trong đó V (động từ) phải là những từ chỉ cảm xúc như 驚く (odoroku = ngạc nhiên), 腹が立つ (hara ga tatsu = sôi máu) v.v...

Một số ví dụ
- May mắn là tôi đã được nhiều người giúp đỡ.
幸いなことに多くの人に手伝ってもらえた。
- Thật đáng tiếc là tôi đã bỏ lỡ cơ hội tốt nhất.
残念なことに一番良いチャンスを逃した。
- Thật xui xẻo khi tôi không thể kiếm đủ tiền để đi du học.
不運なことに留学するためのお金を稼げなかった。
- Thật bất hạnh là tôi đã phá sản.
不幸なことに倒産した。

不幸中の幸いなことに = Trong cái rủi có cái may, ...

Vậy có khác gì 幸いに (saiwai ni), 残念に (zannen ni) hay không?
Khác ở chỗ 幸いに (saiwai ni), 残念に (zannen ni) là trạng từ chỉ cách thức của hành động. Ví dụ nếu nói là:
幸いに多くの人に手伝ってもらえた。 
Thì câu này có thể sẽ được hiểu thành:
Tôi đã được nhiều người giúp đỡ một cách may mắn.
Ở đây "một cách may mắn" chỉ cách thức mà người đó được nhiều người giúp đỡ. Để tránh bị hiểu như vậy, bạn cũng có thể nói "May mắn là tôi đã được nhiều người giúp đỡ." theo cách sau:
幸いにも多くの人に手伝ってもらえた。

Cách nói thay thế

A(な) + にも
Ví dụ: 残念にも、幸いにも. Tuy nhiên cách này không dùng cho Vた/Vdic. hay Aい được.

2 nhận xét:

  1. Hình như có sự nhầm lẫn về Hán tự ở chữ ichiban trong câu "残念なことに" thì phải?! 一番かな?!

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Cám ơn bạn nhé đã sử 壱晩 thành 一番 cùng đọc là ichiban. Cái này là 誤字 goji (lỗi chuyển kanji sai).

      Xóa