"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2016

Odoriko

Bài hát Odoriko (踊り子 dũng-tử). Tên bài hát nghĩa đen là "Vũ công" và tạm dịch (của Saromalang) là "Tình vũ công". Tác giả viết nhạc và lời Murashita Kōzō (村下孝藏, Thôn-Hạ Hiếu-Tàng).

Mặc dù tên bài hát là "Vũ công" - tiếng Nhật gọi là 踊り子 Odoriko - và nói về tình yêu, nhưng thật sự bài hát còn có lớp nghĩa sâu xa ẩn giấu bên trong và bài này không nói về vũ công thật sự mà chỉ dùng như một sự ẩn dụ (metaphor). つま先立ちの恋 tsumasakidachi no koi là "tình yêu đứng trên đầu ngón chân" chỉ một tình yêu không có nền tảng chắc chắn, phải che giấu khỏi con mắt của những người xung quanh. Đây có lẽ là "tình yêu che giấu" hay "tình yêu cấm đoán" vì một lý do gì đó (ví dụ không môn đăng hộ đối, tình yêu cùng chỗ làm, tình yêu kiểu say nắng ngoại tình vv).

Bài hát này thuộc dòng "tân nhạc" Nhật Bản những năm sau chiến tranh, hấp thụ phong cách sáng tác nhạc của phương Tây (trước đây nhạc Nhật là thể loại truyền thống gọi là 演歌 enka "diễn ca"). Cũng như nhạc vàng ở miền nam Việt Nam trước 75, "tân nhạc" Nhật Bản đã phát triển với giai điệu sâu lắng, ca từ nhiều lớp nghĩa, làm say mê nhiều thế hệ tại Nhật. Điểm khác giữa "tân nhạc" Nhật Bản và nhạc vàng là về chiến tranh, vì Nhật đã hết chiến tranh nên tân nhạc chủ yếu viết về tình yêu, còn nhạc vàng miền nam viết về cả tình yêu lẫn chiến tranh. Nhưng về mức độ lâm li thì chắc chắn không bên nào thua bên nào.

Nghe bài hát Odoriko 

(nghe mp3 bên dưới)



Được tác giả biểu diễn vào năm Chiêu Hòa 58, tức là năm 1983 tây lịch.
MP3

LỜI BÀI HÁT (歌詞 kashi, "ca từ")

1
答えを出さずに いつまでも暮らせない
バス通り裏の路地 行き止まりの恋だから
kotae o dasazuni itsu made mo kurasenai
basudoori ura no roji yukidomari no koi da kara
2
何処かに行きたい リンゴの花が咲いてる
暖かい所なら 何処へでも行く
dokoka ni yukitai ringo no hana ga saiteru
atatakai tokoro nara doko e demo yuku
3
つまさきで立ったまま 君を愛してきた
南向きの窓から 見ていた空が
踊り出す くるくると 軽いめまいの後
写真をばらまいたように 心が乱れる
tsumasaki de tatta mama kimi wo ai shitekita
minamimuki no mado kara miteita sora ga
odoridasu kurukuru to karui memai no ato
shashin wo baramaita you ni kokoro ga midareru
4
表紙のとれてる愛だから かくしあい
ボロボロの台詞だけ  語り合う日々が続き
hyoushi no toreteru ai da kara kakushiai
boroboro no serifu dake katariau hibi ga tsuzuki
5
坂道を駆ける子供たちのようだった
倒れそうなまま二人 走っていたね
sakamichi wo kakeru kodomotachi no you datta
taoresou na mama futari hashitteita ne
6
つまさきで立ったまま 僕を愛してきた
狭い舞台の上で ふらつく踊り子
愛してる 愛せない 言葉をかえながら
かけひきだけの愛は 見えなくなってゆく
tsumasaki de tatta mama boku wo ai shitekita
semai butai no ue de furatsuku odoriko
ai shiteru aisenai kotoba wo kaenagara
kakehiki dake no ai wa mienaku natteyuku
7
つまさきで立ったまま 二人愛してきた
狭い舞台の上で ふらつく踊り子
若すぎたそれだけが すべての答えだと
涙をこらえたまま つまさき立ちの恋
tsumasaki de tatta mama futari ai shitekita
semai butai no ue de furatsuku odoriko
wakasugita sore dake ga subete no kotae da to
namida wo koraeta mama tsumasakidachi no koi

ラララ・・・
La la la ....

Giải nghĩa
1
Anh không thể nào cứ sống mãi (như thế này), mà không đưa ra được câu trả lời
Vì đây là tình yêu bế tắc không lối thoát, như con hẻm ở sau đường chạy xe buýt

Trong đoạn này, con hẻm sau đường chính là ẩn dụ cho tình yêu (buộc) phải che giấu, không được hay không dám công khai ra bên ngoài.

2
Anh muốn tới nơi nào đó, Hoa táo đang nở
Bất kể nơi nào nắng ấm anh cũng sẽ đi

"Hoa táo đang nở": Hoa thường nở vào tháng 5 ở các vùng lạnh như Aomori. Đoạn này giống như muốn được giải thoát khỏi nơi mình đang ở và bị cấm đoán, bởi vì giữa mùa đông Nhật Bản là tầm tháng 1 - tháng 2, ở các vùng lạnh như Aomori, Nagano thì tháng 5 là tháng mà bạn vừa trải qua một mùa đông lạnh lẽo, khắc nghiệt, làm bạn cảm thấy u sầu.

3
Anh đã yêu em trong trạng thái đứng trên những đầu ngón chân
Bầu trời đang nhìn từ cửa sổ phía nam bắt đầu nhảy múa xoay tròn
Con tim rối bời như những tấm ảnh vứt tung tóe sau cơn chóng mặt nhẹ

Chủ đề bài hát là "vũ công" nên về bề mặt thì là tình yêu vũ công khi đứng trên những đầu ngón chân tuy nhiên đây chỉ là ẩn dụ. Tình yêu này không có điểm tựa chắc chắn nên sẽ gây ra mệt mỏi khi cố gắng duy trì lâu dài, khiến người trong cuộc cảm thấy chóng mặt và tâm trạng rối bời.

4
Vì là tình yêu đã bị mất trang bìa nên phải cùng nhau che giấu
Những ngày nói với nhau những lời sáo rỗng đứt đoạn lại tiếp tục

表紙 [biểu chỉ] là trang bìa của cuốn sách, quyển vở. Trang bìa bị rơi ra thì dùng "toreru". Đây cũng chỉ là ẩn dụ, tức là đây là tình yêu không có danh phận, không để đường hoàng chính chính tới với nhau.

5
Hai người chạy trên đường nghiêng ngả như những đứa trẻ chạy trên đường dốc

6
Tình yêu trên đầu ngón chân mà em dành cho anh giống như những vũ công lả lướt trên một sân khấu chật hẹp. Trong lúc vừa tự nhủ rằng "tôi đang yêu, tôi không thể yêu" thì tình yêu chỉ có lúc tiến lúc thoái (mà không tới được đích cuối cùng - tức là tới với nhau) đã trở nên mờ nhạt không nhìn rõ nữa.

Ở đây, kotoba wo kaenagara tức là thay đổi lời nói như kiểu bứt cánh hoa "yêu, không yêu, yêu ..." Lòng rối bời giữa thực tế là tôi đang yêu và định kiến, đạo lý rằng tình yêu này là sai trái.

かけひきだけ: 駆け引き kakehiki là tiến và thoái, kake là tiến và hiki là thoái. Đây là tình yêu "tiến thoái lưỡng nan", tiến không được mà thoái cũng không xong.

7
Hai người yêu nhau "trên những đầu ngón chân"
Như những vũ công lả lướt trên sân khấu chật hẹp
Tự nhủ rằng còn trẻ quá, rằng đó là câu trả lời cho tất cả
Tình yêu trên những đầu ngón chân, trong khi vẫn cố kìm nén nước mắt vào trong

namida wo koraeru = kìm nén nước mắt

Vì lời bài hát không quá rõ ràng mà chỉ là ẩn dụ nên bạn muốn hiểu sao cũng được, và bài hát này dành cho những người đang yêu một tình yêu ngang trái không có danh chính ngôn thuận. Phiền đấy.
(C) Giải nghĩa bởi Saromalang

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét