"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

Cách dịch KUSENI (男のくせに)

KUSE là chữ 癖 (くせ, phích >>Bảng kanji) tức là "tật, tật xấu, thói quen xấu (bad habit)".
Ví dụ:
爪をかむ癖
怠け癖(ぐせ)がつく
早起きの癖をつける
話しながらあごをなでるくせがある

Ở đây thì くせに là một mẫu ngữ pháp (xem tại đây).

Ví dụ:

あいつは男のくせに、力がない。
彼女は女のくせに、料理ができない。
鈴木くんは大学生のくせに、英語が読めない。
意地悪なくせに、美人の恋人がいる。
勉強したくせに、テストがあまりできなかった。
好きなくせに、あえて告白できない。
能力が低いくせに、難しい仕事を引き受けた。

Như đã nói trong bài Ngữ pháp KUSENI thì KUSENI dùng theo hàm ý phê phán. Thường dùng để chê bai như thế này:

あんた、力がないね。男のくせに。

Ở đây bạn đảo ~KUSENI xuống thành câu thứ hai. Câu đầu là mô tả "hiện tượng" ^^

Lưu ý ngữ nghĩa: Khi dùng KUSENI thì đó là sự thật (fact), bạn không nói với phụ nữ 男のくせに mà chỉ nói với nam giới mà thôi.

Cách dịch くせに

あいつは男のくせに、力がない。
Hắn là đàn ông mà (lại) chẳng có sức.

あんた、力がないね。男のくせに
Cậu, chẳng có sức gì nhỉ. Đàn ông mà thế à.

Do đó, nếu nói 女のくせに。 thì có nghĩa là "Đàn bà mà thế à" (ví dụ chẳng biết nấu ăn gì).

Tất nhiên khi người ta nói theo kiểu 男のくせに hay 女のくせに thì thường là có sẵn định kiến trong đầu (gọi là 先入観 = せんにゅうかん, tiên nhập quan) rồi. Chứ thật ra thời này nam nữ bình quyền lâu rồi, mà cũng chẳng có đạo lý nào nói phụ nữ phải nấu ăn, hay làm nô lệ cho nam giới. Nếu có, chỉ là để thao túng người khác bằng đồ ăn mà thôi.

Kết luận là, để dịch đúng thì khả năng diễn đạt tiếng Việt phải tốt bên cạnh khả năng đọc hiểu tiếng Nhật. Để trở thành người dịch giỏi thì phải học đúng sắc thái, ngữ nghĩa và so sánh hai ngôn ngữ để tăng năng lực ngôn ngữ trong cả ngôn ngữ mẹ đẻ.
Mark

1 nhận xét:

  1. Cái này quá đúng luôn. Cứ như là mình đang học lại tiếng việt vậy.

    Trả lờiXóa