Look Up

Chìa khóa cần tìm (Key):     >>Trang dịch giả chuyên nghiệp

                  

         

>>Dịch thuật Nhật Việt, Việt Nhật tài liệu chuyên môn, chuyên ngành khó với chất lượng cao    >>Xem hướng dẫn cách dịch thuật ngữ Nhật Việt    >>Cách dịch từ chuyên môn tiếng Việt sang tiếng Nhật    >>Translate Tool Page    >>Bing Translator

Dịch thuật tiếng Nhật chất lượng cao * Dịch tài liệu khó Nhật => Việt, Việt => Nhật

Dịch thuật Nhật Việt chất lượng cao

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2018

Nhật ký đăng ký thi JLPT kỳ tháng 07/2018 (Bị vong lục)

Hạn đăng ký tại Sài Gòn là thứ Bảy ngày 7 tháng 4, 2018, nơi đăng ký là Đại học KHXNNV. Còn hạn bên Nhật hình như là 25 tháng 4. Ở VN phải đăng ký sớm hơn có lẽ là để gửi hồ sơ sang Nhật.

Lần này, tôi đăng ký thi N1 lần thứ 3. Hai lần trước tôi thi đậu, hơn nữa còn điểm rất cao. Lần đầu là 1kyu cũ tại Nhật, lần 2 là N1 tại VN hình như năm 2013 (được điểm tối đa trừ phần nghe dù không làm đúng hết, hồi đó âm thanh bị vỡ hết không nghe được gì may mà không liệt).

Quyết tâm! thi đậu lần này.

Phiếu biên nhận và thông báo ngày lấy phiếu dự thi

Có thay đổi lớn trong lệ phí đăng ký thi JPLT: Lệ phí tăng từ khoảng 220 ngàn lên 500 ngàn.
Chi phí gồm có:
- Tiền mua bộ hồ sơ: 30k
- Lệ phí thi: 500k (N1, còn N khác tôi không biết)
- Sao chứng minh thư (ở đối diện trường): 1k

Tổng: 531k

Không cần gửi xe mà để xe ngay trong sân trung tâm ngoại ngữ nên không tốn tiền.

Các thứ cần mang là 02 hình 3x4, chứng minh thư (có sẵn bản sao càng tốt), tiền hồ sơ và lệ phí thi (530k). Tới trường Nhân văn trong giờ hành chính rồi mua bộ hồ sơ, điền form trong đó theo yêu cầu rồi nộp cho quầy đăng ký. Thủ tục khá đơn giản. Có bàn ghế ngồi viết, có form mẫu cách viết, cây viết, hồ để dán hình hết luôn. Muốn photo thì sang bên kia đường.
>>Xem tại album Đăng ký thi JLPT kỳ 07.2018

Bạn có thể xem Hướng dẫn đăng ký thi JLPT tại Vietnam.

Lưu ý khi điền hồ sơ:
1) Viết mạnh tay trang đầu (chỉ điền trang đầu) để còn in than (in carbon) lên các trang sau cũng như phiếu dự thi và bản sao phiếu dự thi trang cuối. (Nếu mờ quá thì phải tô lại trang mờ)
2) Dán hình vào phiếu dự thi và bản sao phiếu dự thi trang cuối.
3) Điền mật khẩu để xem kết quả online về sau, tốt nhất là ngày tháng năm sinh của bạn dạng ddmmyyyy ví dụ 31121987.

Sau khi nộp hồ sơ và đóng lệ phí thi, trường sẽ cho bạn biên nhận và lịch lấy phiếu dự thi. Bạn phải giữ biên nhận này để còn mang đi lấy phiếu dự thi nhé.

Nhân tiện, đây là lịch lấy phiếu dự thi cho kỳ thi JLPT 07/2018:
N5: 14 ~ 18 tháng 6, 2018
N1, N3: 19 ~ 22 tháng 6, 2018
N2, N4: 23 ~ 27 tháng 6, 2018

Tức là trước khi thi tầm 1 ~ 2 tuần, vì ngày thi là chủ nhật ngày 1 tháng 7, 2018.

Vậy còn khoảng 3 tháng, nên chắc dư ... thời gian để ôn!

Giờ tôi là "người nhập cuộc", cùng hội cùng thuyền với các bạn. Nên sẽ còn trở lại chủ đề này để ... hô hào khẩu hiệu và nâng cao quyết tâm sau! Còn nhiều thời gian mà.
Takahashi

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2018

Phân biệt sắc thái "thất lễ" và "vô lễ"

Thất lễ (失礼) và Vô lễ (無礼) khác gì nhau về sắc thái?

Cả hai đều là "không đúng lễ nghi, trái với lễ nghĩa".

Tuy nhiên, thất lễ là bạn vô tình làm việc không đúng lễ nghi, trái với lối hành xử thanh lịch.

Ví dụ: 失礼な行為。
先日失礼しました。

Tức là, bình thường bạn là người có "lễ" (hành xử lịch sự đúng lễ nghi) hay để tâm, có ý thức về cư xử đúng nhưng trong hoàn cảnh đó bạn lỡ làm hành động không đúng

Còn vô lễ là chỉ tính chất hay bản chất của con người không có lễ nghi, hay không được dạy dỗ đàng hoàng về lễ ở trong gia đình.

無礼な人 người vô lễ (bản chất là không biết lễ nghi, không biết hành xử có lễ)

Về mặt kanji

THẤT 失 là lỡ làm mất, đánh mất trong lúc đó.

VÔ 無 là không có, không tồn tại.

Bài tập về phân biệt sắc thái THẤT LỄ và VÔ LỄ

(1) Phân biệt 失礼な行為 và 無礼な行為

(2) Dịch các câu sau ra tiếng Việt. (Đã có trên từ điển Yurica nhé)
a. 失礼します。Y↗
b. 失礼しました。Y↗
c. 先に失礼します。Y↗

Takahashi

Trọng âm trong tiếng Nhật: Phân biệt Đoản âm BO và Trường âm BOU

Trường âm(長音、ちょうおん): ぼう BOU (dù âm sau là U nhưng vẫn đậu là "BÔ")
Đoản âm(短音、たんおん): ぼ BO

Bí quyết: Đoản âm ngắn hơn trường âm, chính xác là một nửa. Phát âm chuẩn tiếng Nhật đòi hỏi bạn phải phát âm đúng âm dài và âm ngắn.

Học phát âm tiếng Nhật với Đỗ Nhật Chăm
"Pronunciation first! Make pronunciation great again."

野暮 YABO và 野望 YABOU

YABO: Trọng âm nằm ở YA.
YABOU: Trọng âm nằm ở BOU.

Bạn nào phát âm tốt tiếng Anh thì sẽ phát âm tốt tiếng Nhật, vì tiếng Anh nói phải có trọng âm người nghe mới hiểu được.

Trọng âm là vô cùng quan trọng trong tiếng Nhật vì tiếng Nhật có âm dài (trường âm) và âm ngắn (đoản âm). Vì tiếng Nhật khá ít âm tiết nên phải dùng cách này tăng lên.

Tiếng Việt có vô vàn âm tiết và là ngôn ngữ đơn âm, nên cơ bản là tiếng Việt không có trọng âm. Vì thế, người Việt thường không phát âm được âm dài và âm ngắn chính xác, dẫn tới người nghe không hiểu. Hơn nữa, vì không nói chính xác nên khả năng nghe hiểu bị hạn khế.

Nhân tiện, bạn có phát âm được từ "domestic", "cosmetic", "presentation", "preparation", "laboratory", "dormitory", "reference", "event", "image" trong tiếng Anh không? Nếu bạn phát âm chính xác và người Mỹ hiểu được nghĩa là bạn biết cách phát âm trọng âm đấy.

Tôi không gặp rắc rối gì với trọng âm tiếng Nhật. Như thế gây cảm tình tốt hơn dù chỉ nói điện thoại.

Lý thuyết đủ rồi. Làm ít thực hành nhỉ!

Phân biệt 野暮 YABO vs. 野望 YABOU

Thứ Hai, 19 tháng 3, 2018

Vì sao phát âm つ TSU khó đến vậy?

Âm つ TSU có thể nói là âm khó phát âm nhất trong tiếng Nhật, vì âm này không có sẵn trong tiếng Việt hay tiếng Anh, nên không thể bắt chước được ngay.

Nếu phát âm là "trư", "tru", "chư" hay "chu" trong tiếng Việt là sẽ sai, vì không đủ âm "rít". Âm TSU không chỉ là âm gió mà còn là âm rít nữa.

Trong tiếng Anh cũng không có âm này nên người học tiếng Anh không thể bắt chước.

Có thể nói âm TSU là đặc thù phát âm tiếng Nhật (phát âm vòm miệng).

Âm TSU này khó nghe rõ và hay bị nhầm với す SU hay ちゅ CHU (CYU).

Phát âm つ đúng mới được coi là phát âm chuẩn tiếng Nhật.

Nào, chúng ta cùng nghe 3 âm na ná nhau này để thấy được tính chất ngang trái của nó.

PHÁT ÂM つ TSU

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2018

Bài đọc hiểu tiếng Nhật tuần sau: 年長者のしぐさ

Japanese reading ability / 日本語の読解練習

Title: 年長者のしぐさ
Source: http://net.keizaikai.co.jp/archives/5379
Content:
 江戸の商家では、一人前の主になると今度は人のために先立って皆の手本となるような生き方を示すように「年長者のしぐさ」という心得を掲げたそうです。
①人をどれだけ笑わせているか?
②人をどれだけ引き立てているか?
③人をどれだけ育てているか?
④人にどれだけ伝承しているか?
 江戸のスローガンは「世のため人のため」と掲げられていましたが、特に年長者になったら、自分さえ輝いていればいいという考え方は粋ではありませんでした。
 自分のために知識や教養を得て満足するだけではなく、今度は、これまでの経験を教訓に人を導く立場となって、自分を育ててくれた人達や社会への恩返しのために、はつらつと振る舞い、慈しみとユーモアの精神を忘れないように心掛け、文化的人道的に過ごしたそうです。
 そして、世の中に必要とされ、敬われるような人間を目指して切磋琢磨し、後輩の育成に尽力を注ぎました。
 職場では商家の主として、学びの場では江戸で発達した「講」の先生として、家庭なら父親、母親としてなど日常における年長者の役割は重要です。江戸の若者たちは、大人たちの背中を見て模倣し学び、その心映えを讃え、愛情を受け取り、隠居の老人や目上の年長者たちを自然と敬い、いつの間にか江戸に「年長者を敬う」心の文化が築かれていったのです。
 これは、江戸しぐさの最大のテーマでもある〝共生〟の精神が土壌にあり、若者たちは身近な年長者たちを敬うことで地域社会と共生し、次は自分もその立場になって人のために活躍しようという感性が身に付いていたのです。
 年長者は、単に年配者という意味ではなく、会社組織なら社長はもちろん、勤務年数や実務経験が多い人、その部署のリーダーなど人を導く立場として、誰にでも当てはまることになります。
 例えば、後輩が業績を伸ばしやすい環境をつくるのは先人の役目でもあると考え、ときにはユーモアで場を和ませる。一歩譲って相手を引き立て良いところは言葉にして誉めてみる。自分が得た知識や技術を分け与えて育成し、その精神も伝承していくのが年長者のあるべき姿だと思えること。その継続が会社の発展にもつながり、やがてその徳は自分にも返ってくることになると江戸商人のリーダーたちは考え実践していたのです。
 あなたは年長者の立場として、どんなしぐさを心掛けていますか? ちょっと視点を変えて先人たちの問い掛けに耳を傾けてみませんか?
「どれだけ人を笑わせているか?」なんて、江戸っ子らしい粋な商人道ですね。

Bài tập học hiểu tiếng Nhật tuần này: 商人道とは何か

Title: 商人道とは何か
Source: http://www.msb.co.jp/topics/253/
Content:
青野豊作氏の著書「新・商人学教科書」により、商人道について考えてみたい。
(1) 商売は私事でなく、公事である。
・商売とは、規模の拡大とより多くの利益の取得を目指すものでなく、社会において自分が果たすべき使命と役割を知り、その上でお客様第一義の立場に立って汗を流し、知恵を絞ることである。
(2) 商売はロマン、夢の追求である。
・商売の意義は、金を儲けることにあるのではなく、自分の夢を追求し、さらにその夢を実現することにある。ロマンを実現するには、熱い思いのほかに、冷徹な数字をもって策定された事業計画と、その計画を着実に実行していく強い意志が不可欠である。
(3) 商売は企業文化である。
・企業文化が、他社にない、消費者を魅了する価値ある商品を生み出すのである。他方、消費者もその企業文化に魅力を感じているからこそ、そのブランド品を買い求める。ブランド品メーカーと消費者は、”ブランド商品“という目に見えるモノを通じて目に見えない企業文化を共有し、さらに、共感と共鳴の大きな輪をつくっているのである。
(4) 商売は戦いであり、覇道である。
・「商人は不断の心がけうすき時は、他よりその商ひを奪ふ。これ軍の利。多年心に懈怠(けたい)なく、商ひの道よく勤め、眷属を養ひ、内を治め、そのうえ家業怠らざれば家栄ゆるなり」(高利遺言)
・覇道とは、商売もお客様を喜ばせ、満足させるために競い合っており、武士の戦場と同じであるということ。
(5) 商売はイノベーションである。
・「商ひは草の種。人に先んずるが肝要。とにお角にも人の気の付ざる所に眼をつけて、人に先を取られぬやう心をつくすべし。」(商家心得草)
(6) 商売は論理であり、システムである。
・商売は、論理が通っていないと経営は成り立たない。あくまでも論理的に考えていかなくてはいけない。
・カネを追わずに、カネが入るシステムをつくるが大切である。

Chỉ cần biết một từ vạn năng để có vẻ giỏi tiếng Nhật

趣旨:ただ一つの万能な言葉を知るだけで日本語が上手そうに見える

Từ đó là:

やばい
YABAI = VÃI

Có thể dùng đứng riêng hoặc YABAI + [TÍNH TỪ], bất kỳ tính từ gì.

Tôi có nói về từ VÃI này rồi. Giờ sẽ là cách để chúng ta xuất hiện có vẻ giỏi tiếng Nhật, tức là thực hành trong cuộc sống.

Bạn có thể xem やばい hay やべー tại từ điển Yurica.

Tóm lại gì người ta nói gì bạn cũng やばい. Nhận xét gì cũng やばい.

Ví dụ:
A:日本語はどうですか。
B:日本語はやばい難しい。
Tiếng Nhật khó vãi.

あなたの英語はやばい。
Tiếng Anh của bạn vãi thật đấy.

Minh họa hình ảnh:

Yabai kawaii = Xinh vãi! / Xinh vãi lúa! / Xinh vãi tè!

Yabai = Sợ vãi! / Vãi tè!

More example

N1取ったの?やばい。
Bạn lấy N1 rồi á? Vãi thật đấy.

勉強はやばい疲れた。
Học mệt vãi lúa.

今日もやばい暑いから気を付けましょう。
熱中症になったらヤバイから。
でも、バイトに行かなきゃので、ほんまにやべー

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2018

Phân biệt sắc thái "test" và "check"

I would like to test my computer.
I would like to check my computer.

Hai câu này sắc thái khác nhau mặc dù nhiều người dịch cả "test" lẫn "check" đều là "kiểm tra".

Dù đều là kiểm tra nhưng test và check khác nhau về sắc thái:

Test: Bạn kiểm tra mà không biết là kết quả có tốt không (vì không biết nên muốn "test" để kiểm tra)
Check: Kiểm tra với tiền đề là máy sẽ chạy tốt (tức là với kỳ vọng sẽ cho ra kết quả tốt)

Tức là TEST mang sắc thái là "để thử" còn CHECK mang sắc thái là "xác nhận".

Bài test trên lớp là bài kiểm tra xem học sinh có học hay tiếp thu bài giảng tốt không.

Check list là danh sách để xác nhận xem thứ gì đó có chạy tốt hay đầy đủ đúng như kỳ vọng không.

Phẩm cách dịch giả là phải dịch đúng sắc thái.

Bằng cách này bạn mới thành dịch giả chuyên nghiệp và có thu nhập cao.

Nhân tiện, để dịch tốt thì phải giỏi sắc thái tiếng mẹ đẻ. Không thể dịch hai từ khác nhau như nhau được. Vì nếu thế thì dùng hai từ khác nhau làm gì?

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018

Dịch "làm giàu không khó" sang tiếng Nhật

"Làm giàu không khó! Cái khó là làm sao làm được như diễn giả của chương trình
Làm giàu không khó."

Hãy dịch câu trên ra tiếng Nhật.

"Làm giàu" sắc thái là gì và dịch ra tiếng Nhật thế nào?

"Làm giàu" = grow rich
金持ちになる
富を成す
富む

Nhưng thật ra 金持ちになる chỉ là "trở nên giàu có" mà thôi. Đúng không nhỉ?

Làm giàu thường là hiểu theo nghĩa Học + Làm = Giàu (đừng có đầu cơ cây mắc ca siêu lợi nhuận nhé), tức là từ nghèo khó đi lên, bằng sự học tập và nỗ lực không ngừng nghỉ của bản thân mà trở nên giàu có.

Chứ lấy người giàu, trúng số, đào trúng vàng, vv thì không thể gọi là "làm giàu" được.

富を成す hay 富む cũng chỉ là trở nên sung túc, nhiều của cải chứ chưa chắc đã là làm giàu.

"Diễn giả"

Người diễn thuyết 演説者 hay người diễn xuất 演出者?
演者

"Biên mậu" trong "thanh toán biên mậu" là gì?

Biên = 辺 = biên giới 国境, biên cương 辺境/辺疆
Mậu = 貿 = mậu dịch 貿易 = thương mại quốc tế

Do đó, biên mậu là chỉ thương mại quốc tế giữa biên giới hai nước giáp nhau, đặc biệt giữa China và VN.

Biên mậu thường chỉ việc giao dịch giữa biên giới hai nước trong một khu vực hẹp, thường là theo kiểu truyền thống trước đây.

Thứ Bảy, 24 tháng 2, 2018

"Yên bề gia thất" nghĩa là gì?

Yên bề gia thất = kết hôn, lập gia đình, thành thân, kết duyên, se duyên, về chung một nhà, nên duyên vợ chồng, giã từ đời độc thân, ....

Tuy nhiên, sắc thái của "yên bề gia thất" thực sự là gì?

Đó là: Lập gia đình để tập trung lo cho công việc, sự nghiệp.
English: Yên bề gia thất = To get married in order to focus on one's career

"Yên bề gia thất" thường chỉ dùng cho nam giới, những người có rất nhiều nghĩa vụ trong cuộc đời:
- Lập gia đình sinh con nối dõi tông đường
- Lập công danh sự nghiệp
- Hoặc có công ăn việc làm ổn định để nuôi gia đình

Tóm lại thì là LẬP GIA ĐÌNH và CÔNG DANH SỰ NGHIỆP. "Yên bề gia thất" có nghĩa là về phía lập gia đình ("bề" = "phía") thì đã ổn định rồi chỉ cần tập trung lo cho công danh sự nghiệp nữa là HOÀN HẢO nhỉ?

Thời đại ngày nay thay đổi khi phụ nữ cũng thành trụ cột trong gia đình thì có lẽ "yên bề gia thất" cũng có thể dùng cho cả phụ nữ nữa.

Ví dụ:
Dù anh có hơi lù khù nhưng cô vẫn quyết định yên bề gia thất với anh để có thời gian tập trung cho việc kinh doanh đang phất lên.

"Yên bề gia thất" không ám chỉ là có hay không có tình yêu (hôn nhân vì tình yêu hay hôn nhân sắp đặt). Tuy nhiên, hôn nhân không phải vì muốn ổn định để tập trung cho công việc sự nghiệp (ví dụ vì tình yêu cuồng nhiệt, vì buồn vv) thì không thể gọi là "yên bề gia thất" được.

Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

"Trăm nghe không bằng một thấy" nói tiếng Nhật thế nào?

Thành ngữ "Trăm nghe không bằng một thấy" trong tiếng Nhật:

百聞は一見に如かず
Dịch: Trăm nghe không bằng một thấy

"Trăm nghe không bằng một thấy" nói tiếng Anh thế nào?

Seeing is believing.

Tức là: Nhìn rồi thì mới tin được. Nếu chỉ nghe thôi thì không thể tin hoàn toàn.

"Trăm nghe không bằng một thấy" nghĩa là gì?

Việc tận mắt cứng kiến quan trọng hơn là chỉ nghe người khác kể lại. Tôi vẫn hay nói là KINH NGHIỆM MỚI LÀ TRI THỨC, cứ không phải là ngồi nhà đọc sách thánh hiền mà có tri thức.

Việc học tiếng Nhật thì quan trọng là PRACTIC (thực hành). Thực hành mới giúp kiến thức thật sự là của bạn.

Mẫu ở đây là: Xは一Yに如かず

Trong đó X, Y là các biến số và phải là hành động. Ví dụ chúng ta cũng hay nói:

"Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một sờ"

"Sờ' là 触る nên "một sờ" là 一触, do đó:

 trăm thấy không bằng một sờ = 百見は一触に如かず

Vậy "trăm sờ không bằng một gì?", tới đây thì tôi chịu vì thú thực là tôi cũng hơi "vô túy" không biết gì mấy về đời.
Takahashi

P.S.: Nếu chúng ta nói bằng ngữ pháp sơ cấp thì đây là SO SÁNH KHÔNG BẰNG trong tiếng Nhật, sử dụng mẫu câu HODO ... NAI:

百聞は一見ほどよくない。
百聞は一見ほど優れていない。
百聞は一見ほど役に立たない。

Hoặc ngữ pháp sơ trung:
百聞は一見ほどではない。

Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

Viết kanji thật sự có mấy LOẠI NÉT?

Nhìn một chữ kanji thì có vẻ lằng nhằng nhưng thật ra chỉ có vài "đường nét" cơ bản thôi. Ví dụ chữ này:

Hắc

Nét viết: 丨フ一一丨一一丶丶丶丶
丨: nét sổ thẳng
フ: nét đóng khung
一: nét ngang
丶: nét phết

Ví dụ khác: chữ kanji nhiều nét nhất bảng thường dụng hán tự Nhật Bản 鬱。

Uất

Nét viết: 一丨ノ丶ノ一一丨フ丨一丨ノ丶丶フノ丶丶丶丶丶フ丨ノフノノノ
ノ: nét sổ chéo (ngược với nét phết)

Tra cách viết:
kakijun.jp (animation)
Từ điển Hán Nôm: hvdic.thivien.net

Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018

"All covet all lose"

大欲は無欲に似たり
=>たいよくはむよくににたり
=>Grasp all, lose all
=>All covet, all lose
=>Lắm mối tối nằm không

Điều quan trọng khi dịch quán ngữ, thành ngữ tiếng Nhật là nên dịch thành quán ngữ, thành ngữ tương ứng trong tiếng Việt.

Ví dụ:
大欲は無欲に似たりというように、何でもかんでも欲しがると何も手に入れられないよ。

Quiz 1: "Lắm mối tối nằm không" nghĩa là gì?

Quiz 2: Dịch các thành ngữ, quán ngữ sau ra tiếng Việt. //RANKING TUẦN
1.賽は投げられた => Sự đã rồi
2.天上天下唯我独尊 => Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn
3.七転び八起き => Ba chìm bẩy nổi (chín lênh đênh MAYBE ^^)
4.諸刃の剣
5.馬耳東風 => Đàn gẩy tai trâu / Nước đổ lá khoai / Nước đổ đầu vịt
6.有終の美を飾る => Công thành danh toại
7.対岸の火事 => Kê cao gối mà ngủ / Yên chí lớn
8.暖簾に腕押し
9.無用の長物
10.破竹の勢い => Thế trẻ tre

Quiz 3: Dịch các thành ngữ, quán ngữ sau ra tiếng Việt. //RANKING THÁNG
1.為せば成る、為さねば成らぬ何事も
2.青天の霹靂 => Tiếng sấm giữa trời xanh
3.人間万事塞翁が馬 => Tái ông thất mã
4.実るほど頭を垂れる稲穂かな
5.立てば芍薬座れば牡丹歩く姿は百合の花
6.風が吹けば桶屋が儲かる
7.情けは人の為ならず
8.色即是空、空即是色
9.李下に冠を正さず
10.我思う、故に我あり

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

Thế nào là YẾM THẾ?

Nhiều người đang dùng sai từ YẾM THẾ, hay chính xác là dùng mà không hiểu đúng.

厭世
YẾM THẾ

- không phải là yếu thế hay ở thế yếu
- không phải là mặc cảm thua kém hay phức cảm tự ti
- không phải là cảm giác sợ sệt khi đối mặt đối thủ hay người khác

YẾM THẾ chỉ là chán ghét cuộc đời, chán ghét thế giới. Người ta hay dùng sai thành "phức cảm tự ti" nhưng hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau.

YẾM THẾ thì chưa chắc đã tự ti: Anh ấy có năng lực cao nhưng yếm thế.
Tự ti chưa chắc đã yếm thế, có thể là vẫn yêu đời dù hiếm xảy ra.

Phân biệt yếm thế và phức cảm tự ti

=> Yếm thế
=> Phức cảm tự ti

Yếm thế là sự chán ghét cuộc đời, chán ghét con người, còn phức cảm tự ti là phức cảm hay mặc cảm tự ti về bản thân, về gia đình, quốc gia của bản thân vv.

Cảm thấy cuộc đời không đáng sống là yếm thế.
Cảm thấy bản thân (cuộc đời bản thân) không đáng sống là phức cảm tự ti.

Yếm thế = thất vọng về người khác, về cuộc đời
Phức cảm tự ti = thất vọng về bản thân

Hai khái niệm khác hẳn nhau nhé. Nhưng cũng có nhiều người bị cả hai nhỉ.
Takahashi

Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018

Hướng dẫn cách học 3000 từ vựng N1 quan trọng (3000 Essential Vocabulary for the JLPT N1)

Để học 3000 từ vựng N1 thiết yếu chúng ta học theo sách này:


Tên sách: 3000 Essential Vocabulary for the JLPT N1 (N1単語3000)
Ngôn ngữ: Anh, Trung, Việt => Các bạn VN hãy mua sách tiếng Việt nhé!
Biên soạn: Arc Academy

Đây là cuốn tiếp nối các cuốn đã giới thiệu tại Saromalang:
1000 Essential Vocabulary for N5
1500 Essential Vocabulary for N4
2000 Essential Vocabulary for N3
2500 Essential Vocabulary for N2

Sách có kèm theo âm thanh và đề thi mô phỏng trên website.

Đây là nội dung tham khảo (nếu bản tiếng Việt sẽ là dịch song ngữ Anh - Việt):


Ngoài ra, còn có red sheet để học như đã giới thiệu trước đây.

Như vậy nếu học hết bộ này bạn sẽ có số từ vựng sau đây:

Bộ sách học từ vựng tiếng Nhật của Arc Academy

Sách học
Số từ vựng tiếng Nhật
Hết sách N5
1,000
Hết sách N4
2,500
Hết sách N3
4,500
Hết sách N2
7,000
Hết sách N1
10,000

Saromalang

Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

"Phạm trù" là gì?

Phân biệt:
- Phạm trù (範疇)
- Thể loại (category)
- Phân loại (分類) vân vân.

Ví dụ: Việc học tiếng Nhật thuộc phạm trù học ngôn ngữ.
Làm sao để thành công không thuộc phạm trù tiền bạc mà thuộc phạm trù tư duy.

PHẠM TRÙ là phạm vi chứa đựng những thứ có cùng tính chất.

PHẠM TRÙ khác gì THỂ LOẠI = CATEGORY?

Damn.

Thể loại là những thứ được phân biệt tương đối rõ ràng.
Phạm trù thường hàm chứa những tính chất ít rõ ràng hơn.

=> POINT: Nếu bạn không xếp được thành thể loại, hãy xếp thành PHẠM TRÙ.

Bài viết này không thuộc thể loại N1, mà thuộc phạm trù N0, tức là không rõ nên xếp vào N mấy, hay có rõ ràng thuộc N1 không. Vì bản thân PHẠM TRÙ có lẽ không được ra đề trong N1 nhưng rất có thể sẽ xuất hiện trong các bài đọc với ghi chú bên dưới kiểu như:

※範疇:カテゴリー。物事を分類するカテゴリー。

Như vậy bản thân PHẠM TRÙ có thể không nằm trong trình độ N1, nhưng vẫn thuộc phạm trù N1 nhỉ?

PHẠM TRÙ của bản thân bài này cũng không thuộc về học tiếng Nhật, mà thuộc về nghiên cứu ngôn ngữ nói chung.

無精 VÔ TINH hay 不精 BẤT TINH

"Mỗi ngày một từ vựng, cuối đời chưa giỏi tiếng Nhật"

Hai từ này là một thôi, chú ý là cách đọc không như thường nên cũng có thể ra đề thi JLPT N1.
Phạm trù: Từ vựng N0 (không biết N mấy hoặc không thuộc N nào cả)

Ví dụ: Điệu bộ của bạn hôm nay thật là VÔ TINH 無精.

VÔ TINH 無精 có lẽ là không tinh tươm chứ không phải là VÔ TÌNH 無情 và càng không phải VÔ THƯỜNG 無常 nhé.

CHÉM CHO CÓ TÍ GIÓ CHO MÁT BY TAKAHASHI

Có cách nào kết hợp 3 từ này vào một câu cho đỡ ... tốn công học không? Vì hoa thơm phải hái cả cụm mới vui và vinh quang nhỉ?

Nếu bạn kiên quyết thực hiện lối sống VÔ TINH, đối xử với mọi người một cách VÔ TÌNH, rất có thể cuộc đời sẽ sớm VÔ THƯỜNG.

Giờ thì nhiệm vụ của bạn là chuyển ngữ sang tiếng Nhật thôi.

Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2018

Thế còn 無粋 VÔ TÚY là gì?

Lần trước có học về VÔ TÂM 無心 nên hôm nay là VÔ TÚY 無粋.

VÔ TÚY có nghĩa là không có "túy", TÚY ở đây là "tinh túy" (精粋). Vì trong tiếng Việt không có VÔ TÚY nên đành chịu thôi nhỉ!

Khi tra từ điển thì ra thế này:

世態・人情、特に男女の間の微妙な情のやりとりに通じていないこと。また、そのさま。遊びのわからないさま、面白味のないさまなどにもいう。やぼ。「無粋なことを言う」「無粋な客」⇔粋。

Vấn đề là dịch ra tiếng Việt thôi. VÔ TÚY có nghĩa là không hiểu nhân tình thế thái, đặc biệt là sự trao đổi tình cảm "vi diệu" (tinh tế khó nhận biết) giữa nam và nữ, cũng chẳng trực quan lắm.

Tóm lại thì là không hiểu nhân tình, thế thái, chuyện trai gái liếc mắt đưa tình buông lời đường mật.

Vậy, VÔ TÚY tiếng Việt là gì? Bạn hãy tư duy để tìm ra nhé. Đây chỉ là bài test tiếng Việt thôi ^^

Tôi thì dịch tại Yurica.

Ví dụ: 彼は無粋だから騙された。

Bạn có phải là kẻ VÔ TÚY không?

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Thế nào là VÔ TÂM 無心

無心 có nghĩa là "vô tâm" thôi. Nhưng trong tiếng Việt "vô tâm" có nghĩa là gì? Khi học ngôn ngữ thì phải thành thạo ngôn ngữ mẹ đẻ trước và phải vận dụng tốt, sau đó dịch ra tiếng Nhật là được mà.

VÔ TÂM 無心

=>Tra từ điển Yurica VÔ TÂM 無心

"Vô tâm" có nghĩa là không suy nghĩ, ví dụ chơi một cách vô tâm, hay không có tâm (hắn ta là một kẻ vô tâm) tức không biết suy nghĩ cho người khác.

Cô ấy vô tâm lắm = Cô ấy không hay ít suy nghĩ cho người khác

Chú ý là trong trường hợp này không có nghĩa là cô ấy ích kỷ hay lợi dụng. Cô ấy chỉ ít suy nghĩ thôi. Đối với bản thân cũng có thể vô tâm: Cô ấy vô tâm với bản thân.

Tóm lại thì nghĩa thông dụng thì "vô tâm" = "ít hay không suy nghĩ nghiêm túc, thấu đáo".

"Vô tâm" cũng có nghĩa là không có tâm tức là "vô tình", "không thương xót".

VÔ TÂM trong tiếng Nhật

Có thêm một nghĩa là "vòi tiền" giống như ねだる

Ví dụ: Nó hay vòi tiền cha mẹ.
Mẹ nó hay vòi tiền nó.

VÔ TÂM SURU tức là vòi vĩnh tiền bạc vật phẩm một cách không ngại ngùng. Ở Nhật việc cha mẹ vòi vĩnh tiền con cái là không đúng đắn, tuy nhiên vẫn có người làm thế và con cái họ rất khổ, không có tích lũy. Phần lớn cha mẹ Nhật không vòi tiền con cái. Ở một số nền văn hóa, việc vòi tiền con cái lại là chuyện thường ngày ở thành phố.

Trong trường hợp như thế, có thể nói là 'Cha mẹ VÔ TÂM với tôi'.
Takahashi

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

Phân biệt 3 mẫu ngữ pháp N1 ぶる BURU、びる BIRU và めく MEKU

ぶる BURU = tỏ ra, tỏ vẻ
びる BIRU = nhìn rất, trông rất
めく MEKU = nhuốm màu, đượm màu, mang màu sắc

Về nghĩa thì tôi đã dịch rồi nên chẳng còn gì nói, TUY NHIÊN, đây chưa phải cách dịch hay nhất mà để các bạn suy nghĩ thêm để dịch cho hay. Bạn cần tự TƯ DUY một chút.

HƯỚNG DẪN CÁCH SỬ DỤNG ぶる BURUびる BIRUめく MEKU

BURU = tỏ ra, về mặt thái độ, cư xử
Cách dùng: [Dạng danh từ (gốc từ)] + BURU
上品ぶる = tỏ ra có phẩm cách, tỏ ra thanh tao (còn thật hay không thì chưa chắc nhỉ?)
偉ぶる = tỏ ra quyền thế, tỏ ra tốt đẹp

Ví dụ: Hắn tỏ ra khôn ngoan rồi nói "Tôi có thể giúp anh".
"Tôi chả sợ ai", cô ta nói tỏ ra cao ngạo.

BIRU = nhìn rất, trông rất
Cách dùng: [Dạng danh từ (gốc từ)] + BIRU
Thường dùng với ý tiêu cực 古びた建物 tòa nhà trông rất cũ
Khi dùng làm tính từ thì dùng dạng quá khứ びた。 Đây là TÍNH TỪ, không phải quá khứ.

MEKU = nhuốm màu, mang màu sắc ...
Cách dùng: [Dạng danh từ (gốc từ)] + MEKU
Thường nói về sự chuyển đổi và dùng dạng quá khứ めいた làm tính từ.
Ví dụ 春めてきた = giờ đã mang màu mùa xuân
秋めいた日 một ngày mang sắc thu

Đây đều là các cách nói văn vẻ dễ đi vào lòng người, cách dùng giống nhau và ý nghĩa tương đối giống, khác nhau về sắc thái.

Nhân tiện, học ngữ pháp N1 cứ ... dễ dễ thế nào ý nhỉ? Tâm hồn càng phong phú, học ngữ pháp bậc cao càng dễ.

CHÉM CHO CÓ TÍ GIÓ BY TAKAHASHI

諸君、正しき処世術を教えてやろう。
田舎びた人に会ったら、驕り高ぶって皮肉めいた言い方で接せよ。

Takahashi

Kết hợp mẫu ngữ pháp AETE, ANNOJOU, AKUMADEMO và BEKUMONAI để làm văn

"Chém tí cho có gió (作文)"

Có cách nào học tất cả mẫu ngữ pháp trong một đoạn văn không? Thử kết hợp để làm văn như sau:

あえて勇気を出してN1をあくまでも勉強してみろ。案の定難しいかもしれないが、合格しないとは言い切るべくもないよ。

Trong đoạn này kết hợp ngữ pháp あえてあくまでも案の定べくもない đã nói hôm trước.


POINT TO ĐÙNG


Nếu hiểu đúng (đặc biệt sắc thái) => Vận dụng được => Viết văn 作文 được
Nếu hiểu không đúng hoặc lơ mơ => Không vận dụng được => Viết văn おかしい

Tại Cú Mèo Saromalang thì yêu cầu là HIỂU ĐÚNG, DỊCH ĐÚNG, VẬN DỤNG ĐƯỢC NGAY TỪ ĐẦU.

Như thế bạn nhớ lâu dài và cũng vui vẻ vì luôn có thể nói SONG NGỮ được (không chỉ nói tốt tiếng Nhật mà còn nói hay tiếng Việt).

Nếu không thì chỉ nhớ máy móc theo thời gian (3 tháng) là quên, hoặc là "kiến thức chết" không vận dụng được, nên không hữu ích, chỉ rác não.

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Mẫu ngữ pháp N1 べくもない BEKUMONAI

べくもない = cũng không thể nào mà (phủ định vv) được

Ví dụ:
宇宙人の存在は否定するべくもない。
Sự tồn tại của người vũ trụ (người ngoài hành tinh) cũng không thể nào phủ định được.

これ以上の接待は望むべくもない。
Sự tiếp đãi lớn hơn thế này thì cũng không thể nào mà mong chờ được.
Tức là không thể mong chờ sự tiếp đãi hơn thế này được nữa, thế này là quá tốt rồi, quá đỉnh rồi.

Xem ví dụ trong từ điển.

Bài tập: Phân biệt với できない và (し)かねる。
宇宙人の存在は否定できない。
宇宙人の存在は否定しかねる。

Mẫu ngữ pháp N1 案の定 ANNOJOU

案の定 = đúng như đã dự liệu, đúng như dự tính, như đã đoán trước = 思った通りに

N1の試験は案の定難しかった。
案の定彼はまたうそをついた。

Đây là trạng từ nên cách dùng cũng đơn giản.

Mẫu ngữ pháp N1 あくまでも(飽くまでも・飽く迄も) AKUMADEMO

あくまでも = cùng lắm chỉ là, tới cùng, tới hết mức

これはあくまでも一例です。 Đây cùng lắm chỉ là một ví dụ thôi.
彼は飽くまでも反対した。 Anh ta đã phản đối tới cùng.

AKU là tới cùng, tới hết giới hạn, tới đáy, tới ngày tận thế, tới ngày phán xét, tới tận cùng thế giới vv.

N1の合格はあくまでも戦うぞ。
Đậu N1 thì tớ sẽ chiến tới cùng đấy.

「あくまでも」をあくまでも理解しろ。

Chẳng có gì để nói thêm.

Mẫu ngữ pháp N1 あえて(敢えて) AETE

敢えて = dám, liều, tức là "dám làm" hay "làm liều, liều lĩnh".

Ví dụ:
親友だから敢えて忠告する。ビットコインは今超バブルでいつ崩壊するかわからないよ。

自信がなかったけどあえて仕事を引き受けた。

Mẫu này đơn giản vậy thôi chẳng có gì nói thêm.

Tra cách đọc từ tiếng Nhật bằng app Google Translate

Bài này hướng dẫn các bạn cách tra cách đọc từ, chữ kanji mà bạn không biết. Ứng dụng để học từ vựng tiếng Nhật. Tại lớp Cú Mèo sẽ phát danh sách từ thiết yếu (essential word list) cho mỗi trình độ Nx và các bạn sẽ phải tự tạo tài liệu học cho mình.

Chuẩn bị:
- Cài app Google Translate lên điện thoại
- Có kết nối Internet (lưu ý chỉ nên xài wifi đỡ tốn kém)

Để nhận mặt chữ thì cần có kết nối Internet.

Cách làm >>Xem album
Bước 1: Bật ứng dụng Google Translate lên, chạm vào icon máy ảnh 📷
Bước 2: Chụp ảnh văn bản bạn muốn tra cách đọc (có thể chụp cả câu hay đoạn văn)
Bước 3: Bôi từ hay câu hay đoạn bạn muốn tra
Bước 4: Google Translate sẽ hiện kết quả dịch,bấm mũi tên tiến → là sẽ thấy cách đọc

Ứng dụng này là để nhận mặt chữ và dịch cho bạn nhưng có thể lợi dụng cho việc học.

Với app Google Translate:
- Bạn có thể tận dụng tra cách đọc từ tiếng Nhật khi học ngoại ngữ
- Dịch bất kỳ ngôn ngữ nào khi đi du lịch ví dụ tiếng Thái ^^
- Có từ điển offline bạn có thể download sẵn về máy, tuy nhiên, để nhận mặt chữ thì bắt buộc phải có Internet

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

Thử nói tiếng Nhật bằng ... tiếng Anh

Ngôn ngữ chỉ là để truyền đạt, không nhất thiết phải dùng một ngôn ngữ cố định. Bạn có thể nói tiếng Nhật bằng tiếng Anh mà người Nhật vẫn hiểu. Thật ra, nếu bạn có VỐN TỪ tiếng Anh tốt thì ở Nhật khá dễ sống, với điều kiện bạn phải nói được từ tiếng Anh đó ... bằng tiếng Nhật.

Nghe có vẻ CONFUSING (gây bối rối) nhỉ? ^^

Nói cho dài dòng ra thì bạn có thể diễn đạt tiếng Nhật bằng tiếng Anh với điều kiện phát âm từ tiếng Anh đó bằng tiếng Nhật.

Chém gió là không phân biệt ngôn ngữ. Vốn từ càng nhiều, càng ハッピー! NOW 分かる??

Ví dụ:

ジャパニーズナチュラルスピーキングできないというインフェリアコンプレックスをずっと持っていましたが、プロナンシエイションプラクティスをし続けることでコンプレックスクリアできました。ナウ私はハッピーです。このジャパニーズランゲージラーニングメソッドをみんなにシェアしたいと思います。
>>Nghe đọc (PC only)

Lúc đó tôi cứ mang mãi phức cảm tự ti (inferior complex) là không thể speak Japanese một cách natural nhưng nhờ việc tiếp tục practice pronunciation mà tôi đã clear được complex. Now tôi rất happy. Tôi muốn share với mọi người method để learn Japanese language.

Lưu ý: ラーニング = learning, ランニング = running, phát âm hoàn toàn khác nhau nhé.

Người Nhật nghe xong còn hơn cả hiểu nữa. Họ vừa hiểu những điều bạn nói, hơn nữa, có khi còn ái mộ bạn vì bạn ... giỏi tiếng Anh.

Let's do it on daily basis!
Takahashi