Còn hơn 1 tuần nữa là sẽ đến kỳ thi năng lực tiếng Nhật (ngày 1 tháng 7) nên JCLASS sẽ nêu ra một số chiến lược thi để đạt điểm cao để các bạn tham khảo. Tất nhiên là mỗi bạn nên lập ra chiến lược cho riêng mình sao cho điểm mà bạn làm được là cao nhất, chiến lược làm bài phải dựa theo năng lực thực tế của bạn.
Điều quan trọng là bạn phải ghi nhớ một điều: Làm sao đạt được điểm cao nhất có thể, cho dù điểm đó cao hơn năng lực thực tế của bạn. Ví dụ: Bạn nghe không hiểu nhưng vẫn chọn đáp án đúng.
Điều này có phải là gian lận hay không? Thực ra thì bạn không cần phải cảm thấy cắn rứt lương tâm vì chuyện này lắm, vì ngôn ngữ nói chung là sự phán đoán chính xác được câu chuyện mọi người đang nói. Trong cuộc sống, tiếng Việt cũng như tiếng Nhật không phải lúc nào bạn cũng nghe được 100% tất cả những từ mà người khác nói nhưng bạn vẫn phán đoán được dựa trên văn cảnh, chủ đề đang nói chuyện....
Vậy bạn nên lập một chiến lược như thế nào? Trước tiên, chúng ta hãy tìm hiểu cách bị mất điểm khi thi.
Những cách mà bạn mất điểm
Hết giờ mà không làm hết bài
Bạn bị mất quá nhiều thời gian ở một phần thi nào đó mà không kịp làm hết bài. Ít ra, nếu bạn không kịp làm hết giờ thì bạn cũng nên đánh dấu trắc nghiệm hết các câu còn lại, ví dụ chọn B hết chẳng hạn.
Nghe một câu và mải suy nghĩ về câu đó mà bị lỡ mất câu sau
Đặc biệt là câu mà bạn hiểu được 70 - 80%, bạn sẽ cố suy nghĩ, nhớ lại để làm và kết quả là mất thời gian cho nó. Bạn sẽ bị mất điểm những câu tiếp vì không chuẩn bị cho những câu đó.
Bị hoảng loạn
Bạn nghe không được một vài câu đầu chẳng hạn. Bạn bị hoảng loạn và kết quả là bạn không làm tốt câu nào cả. Hoặc là bạn làm phần chữ và từ vựng mất quá nhiều thời gian, khi bạn chuyển qua phần đọc thì thấy còn quá ít thời gian và bị hoảng loạn. Hay bạn gặp một bài đọc khó, thấy mình không hiểu gì cả.
Bị kẹt ở một bài đọc khó
Bạn gặp một bài đọc khó hoặc dài và bạn không sao hiểu được nó, bạn chuyển qua bài đọc tiếp nhưng vẫn bị nó ám ảnh. Kết quả là bạn không làm bài tốt.
Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012
Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012
Chuyển tên tiếng Việt sang tiếng Nhật - Công cụ và ví dụ
Chào các bạn,
Bài đăng "Chuyển tên tiếng Việt qua tiếng Nhật" đã có quá nhiều comment và khá bất tiện khi xem tiếp nên JCLASS chuyển tiếp qua bài đăng này. Các bạn có thể áp dụng công cụ dưới đây và tự mình tìm tên tương ứng hoặc để lại comment bên dưới.
Các công cụ hỗ trợ tìm tên tiếng Nhật
(1) Tìm nazuke (cách đọc trong tên): http://5go.biz/sei/p5.htm
(Tìm cùng lúc tới 10 chữ kanji)
(2) Tìm tên (nam, nữ): http://5go.biz/sei/cgi/kensaku.htm
(Chọn 男の子 cho tên nam, 女の子 cho tên nữ)
(3) Danh sách họ trong tiếng Nhật: 日本の苗字(名字)の一覧
(4) Tìm tên nam trong tiếng Nhật: http://cgi.members.interq.or.jp/mercury/p37/name/index.cgi?gen=1
(5) Tìm tên nữ trong tiếng Nhật: http://cgi.members.interq.or.jp/mercury/p37/name/index.cgi?gen=0
(6) Từ điển Hán Việt Thiều Chửu: http://nguyendu.com.free.fr/langues/hanviet.htm
(Tra âm Hán Việt ra chữ Hán và ngược lại)
Chuyển họ tiếng Việt qua họ tương ứng trong tiếng Nhật
Tất nhiên chỉ là một cách định tính và tương đối. Các bạn có thể tùy ý chọn họ mình muốn.
Nguyễn 阮 => 佐藤 Satoh
Trần 陳 => 高橋 Takahashi
Lê 黎 => 鈴木 Suzuki
Hoàng (Huỳnh) 黄 => 渡辺 Watanabe
Phạm 范 => 坂井 Sakai
Phan 潘 => 坂本 Sakamoto
Vũ (Võ) 武 => 武井 Takei
Đặng 鄧 => 遠藤 Endoh
Bùi 裴 => 小林 Kobayashi
Bài đăng "Chuyển tên tiếng Việt qua tiếng Nhật" đã có quá nhiều comment và khá bất tiện khi xem tiếp nên JCLASS chuyển tiếp qua bài đăng này. Các bạn có thể áp dụng công cụ dưới đây và tự mình tìm tên tương ứng hoặc để lại comment bên dưới.
ĐÃ QUÁ NHIỀU COMMENT
Bạn nào muốn comment chuyển qua PHẦN 3 - PHƯƠNG PHÁPCác công cụ hỗ trợ tìm tên tiếng Nhật
(1) Tìm nazuke (cách đọc trong tên): http://5go.biz/sei/p5.htm
(Tìm cùng lúc tới 10 chữ kanji)
(2) Tìm tên (nam, nữ): http://5go.biz/sei/cgi/kensaku.htm
(Chọn 男の子 cho tên nam, 女の子 cho tên nữ)
(3) Danh sách họ trong tiếng Nhật: 日本の苗字(名字)の一覧
(4) Tìm tên nam trong tiếng Nhật: http://cgi.members.interq.or.jp/mercury/p37/name/index.cgi?gen=1
(5) Tìm tên nữ trong tiếng Nhật: http://cgi.members.interq.or.jp/mercury/p37/name/index.cgi?gen=0
(6) Từ điển Hán Việt Thiều Chửu: http://nguyendu.com.free.fr/langues/hanviet.htm
(Tra âm Hán Việt ra chữ Hán và ngược lại)
Chuyển họ tiếng Việt qua họ tương ứng trong tiếng Nhật
Tất nhiên chỉ là một cách định tính và tương đối. Các bạn có thể tùy ý chọn họ mình muốn.
Nguyễn 阮 => 佐藤 Satoh
Trần 陳 => 高橋 Takahashi
Lê 黎 => 鈴木 Suzuki
Hoàng (Huỳnh) 黄 => 渡辺 Watanabe
Phạm 范 => 坂井 Sakai
Phan 潘 => 坂本 Sakamoto
Vũ (Võ) 武 => 武井 Takei
Đặng 鄧 => 遠藤 Endoh
Bùi 裴 => 小林 Kobayashi
Chữ gán 当て字 ateji trong tiếng Nhật
Ateji 当て字(宛字、あてじ) là chữ gán ("ate" nghĩa là "gán cho") trong tiếng Nhật bỏ đi cách sử dụng vốn có mà dùng để biểu thị một từ khác. Ví dụ:
Chữ "nori = tảo biển" được viết là 海苔 (hải đài = kaitai).
西班牙 đọc là スペイン supein, dùng để chỉ Tây Ban Nha (nếu đọc theo đúng chữ kanji thì sẽ là sai-han-ga).
兎に角 = とにかく = "trước tiên (làm gì) đã", nếu đọc hiểu theo chữ kanji thì "góc ở thỏ".
Như vậy là các chữ kanji trên được dùng để biểu thị một từ khác và cách đọc không theo thông thường mà đọc theo từ mà nó biểu thị.
Một số ví dụ về ateji
Tên địa danh:
Các tên nước giống trong tiếng Trung:
希臘 (hy lạp) = ギリシャ
墨西哥 (mễ tây ca) = メキシコ (Mê Hi Cô)
Các tên kanji do người Nhật tạo ra (dựa trên cách đọc gần giống):
ドイツ = 独逸 / 独乙 (Đức)
白耳義 = ベルギー (Bỉ)
Người Nhật hay dùng chữ kanji đơn để thay cho tên nước, nhất là trên báo chí: Đức = 独(ドイツ), Nga = 露(露西亜、ロシア), Pháp = 仏(仏蘭西、フランス), Ý = 伊(伊太利亜、イタリア), Mỹ = 米(亜米利加、アメリカ)...
Nước Mỹ sẽ là 米国 (beikoku), Bắc Mỹ = 北米 (hokubei), Nam Mỹ = 南米 (nambei)
Châu Á: 亜細亜 ateji cho アジア
Chữ "nori = tảo biển" được viết là 海苔 (hải đài = kaitai).
西班牙 đọc là スペイン supein, dùng để chỉ Tây Ban Nha (nếu đọc theo đúng chữ kanji thì sẽ là sai-han-ga).
兎に角 = とにかく = "trước tiên (làm gì) đã", nếu đọc hiểu theo chữ kanji thì "góc ở thỏ".
Như vậy là các chữ kanji trên được dùng để biểu thị một từ khác và cách đọc không theo thông thường mà đọc theo từ mà nó biểu thị.
Một số ví dụ về ateji
Tên địa danh:
Các tên nước giống trong tiếng Trung:
希臘 (hy lạp) = ギリシャ
墨西哥 (mễ tây ca) = メキシコ (Mê Hi Cô)
Các tên kanji do người Nhật tạo ra (dựa trên cách đọc gần giống):
ドイツ = 独逸 / 独乙 (Đức)
白耳義 = ベルギー (Bỉ)
Người Nhật hay dùng chữ kanji đơn để thay cho tên nước, nhất là trên báo chí: Đức = 独(ドイツ), Nga = 露(露西亜、ロシア), Pháp = 仏(仏蘭西、フランス), Ý = 伊(伊太利亜、イタリア), Mỹ = 米(亜米利加、アメリカ)...
Nước Mỹ sẽ là 米国 (beikoku), Bắc Mỹ = 北米 (hokubei), Nam Mỹ = 南米 (nambei)
Châu Á: 亜細亜 ateji cho アジア
Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012
Cần học tiếng Nhật trong bao lâu?
Chào các bạn,
SAROMA JCLASS nhận được nhiều lời phàn nàn rằng các bạn học tiếng Nhật mãi mà không tiến bộ mấy. Phải chăng là bạn không có năng khiếu học ngoại ngữ? Hay là bạn đã "quá tuổi" để học ngoại ngữ dễ dàng? Thật ra thì không phải như vậy, ngoại ngữ không hẳn là năng khiếu. Bản thân tôi cũng chẳng có năng khiếu gì. "Quá tuổi" thì lại càng không, vì càng nhiều tuổi thì học ngoại ngữ lại càng dễ. Tôi nghĩ là những bạn cảm thấy mình không tiến bộ có chút vấn đề về mục tiêu và phương pháp. Vậy điều gì là quan trọng khi học tiếng Nhật? SAROMA JCLASS sẽ giúp bạn xóa bỏ những định kiến sai lầm trong việc học ngoại ngữ.
Sai lầm 1: Cần nhiều năm để sử dụng thành thạo một ngoại ngữ
Sự thực: Bạn cần học 6 tháng là có thể giao tiếp bằng một ngoại ngữ mới. Tuy nhiên, để hiểu sâu một ngôn ngữ thì bạn cần phải có khả năng hệ thống hóa và khả năng so sánh với ngôn ngữ mẹ đẻ và có thể cần nhiều thời gian hơn. Đừng quên là để hệ thống hóa được ngôn ngữ mẹ đẻ (tiếng Việt) có khi bạn cũng phải mất cả chục năm! Ngay từ khi sang Nhật là tôi đã học 2000 chữ kanji, nhờ thế mà không có biển hiệu nào ở nước Nhật mà tôi không đọc được.
Sai lầm 2: Trẻ em học ngoại ngữ dễ hơn người lớn
Sự thực: Người lớn học ngoại ngữ dễ hơn trẻ em rất nhiều. Người lớn có khả năng hệ thống hóa, so sánh với ngôn ngữ tiếng Việt. Người lớn là những người đã nắm rõ được ngôn ngữ mẹ đẻ, nên khả năng hệ thống hóa sẽ lớn hơn trẻ em rất nhiều, giúp họ dễ dàng nắm hết hệ thống ngữ pháp, văn tự trong một thời gian ngắn. Bạn có thể học 2000 chữ kanji trong 1 tháng. Trẻ em Nhật cần tới 6 năm để học hết kanji.
Sai lầm 3: Tiếng Nhật là một ngôn ngữ khó
SAROMA JCLASS nhận được nhiều lời phàn nàn rằng các bạn học tiếng Nhật mãi mà không tiến bộ mấy. Phải chăng là bạn không có năng khiếu học ngoại ngữ? Hay là bạn đã "quá tuổi" để học ngoại ngữ dễ dàng? Thật ra thì không phải như vậy, ngoại ngữ không hẳn là năng khiếu. Bản thân tôi cũng chẳng có năng khiếu gì. "Quá tuổi" thì lại càng không, vì càng nhiều tuổi thì học ngoại ngữ lại càng dễ. Tôi nghĩ là những bạn cảm thấy mình không tiến bộ có chút vấn đề về mục tiêu và phương pháp. Vậy điều gì là quan trọng khi học tiếng Nhật? SAROMA JCLASS sẽ giúp bạn xóa bỏ những định kiến sai lầm trong việc học ngoại ngữ.
Sai lầm 1: Cần nhiều năm để sử dụng thành thạo một ngoại ngữ
Sự thực: Bạn cần học 6 tháng là có thể giao tiếp bằng một ngoại ngữ mới. Tuy nhiên, để hiểu sâu một ngôn ngữ thì bạn cần phải có khả năng hệ thống hóa và khả năng so sánh với ngôn ngữ mẹ đẻ và có thể cần nhiều thời gian hơn. Đừng quên là để hệ thống hóa được ngôn ngữ mẹ đẻ (tiếng Việt) có khi bạn cũng phải mất cả chục năm! Ngay từ khi sang Nhật là tôi đã học 2000 chữ kanji, nhờ thế mà không có biển hiệu nào ở nước Nhật mà tôi không đọc được.
Sai lầm 2: Trẻ em học ngoại ngữ dễ hơn người lớn
Sự thực: Người lớn học ngoại ngữ dễ hơn trẻ em rất nhiều. Người lớn có khả năng hệ thống hóa, so sánh với ngôn ngữ tiếng Việt. Người lớn là những người đã nắm rõ được ngôn ngữ mẹ đẻ, nên khả năng hệ thống hóa sẽ lớn hơn trẻ em rất nhiều, giúp họ dễ dàng nắm hết hệ thống ngữ pháp, văn tự trong một thời gian ngắn. Bạn có thể học 2000 chữ kanji trong 1 tháng. Trẻ em Nhật cần tới 6 năm để học hết kanji.
Sai lầm 3: Tiếng Nhật là một ngôn ngữ khó
Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012
Hệ thống giáo dục Nhật Bản
SAROMA JCLASS sẽ giới thiệu với các bạn một cách dễ hiểu nhất về hệ thống giáo dục Nhật Bản. Những thông tin chính xác và đầy đủ sẽ có ở các trang web khác (sẽ được giới thiệu dưới đây). Hi vọng qua bài viết này JCLASS sẽ đem đến cái nhìn toàn thể về việc học tập tại Nhật.
Hệ thống giáo dục theo độ tuổi
Giáo dục cơ sở
Trường mầm non (幼稚園 youchi'en = ấu trĩ viên): 3 ~ 6 tuổi (3 năm)
Trường tiểu học (小学校 shougakkou = tiểu học hiệu): 6 ~ 12 tuổi (6 năm)
Trường cấp 2 (中学校 chuugakkou = trung học hiệu): 12 ~ 15 tuổi (3 năm)
Trường cấp 3 (高等学校 koutougakkou = cao đẳng học hiệu, hay 高校 koukou = cao hiệu): 15 ~ 18 tuổi (3 năm)
Giáo dục bắt buộc
Pháp luật Nhật Bản quy định phải cho trẻ em đi học 9 năm cho đến khi 15 tuổi, nghĩa là phải học hết tiểu học và cấp 2, nếu không chấp hành sẽ bị phạt tới 100,000 yên.
Khi học cấp 1 và cấp 2 (tiểu học, trung học), do là giáo dục bắt buộc nên không phải đóng học phí (tuy nhiên các khoản chi phí khác như tiền ăn, tiền tham quan,... thì vẫn phải đóng).
Sau khi tốt nghiệp bậc học cơ sở như trên, học sinh có thể học lên giáo dục bậc cao:
Trường đại học (大学 daigaku = đại học): Thường là 4 năm, trường y là 6 năm
Trường đại học ngắn hạn (短期大学 tanki daigaku = đoản kỳ đại học): 3 năm
Trường chuyên tu (専修学校 senshuu gakkou = chuyên tu học hiệu): 2~4 năm.
Ngoài ra, nếu đã tốt nghiệp cấp 2 hoặc cấp 3 thì có thể thi vào:
Trường dạy nghề chuyên nghiệp (高等専門学校 koutou semmon gakkou = cao đẳng chuyên môn học hiệu, còn gọi tắt là 高専 kousen = cao chuyên): 5 năm
Sau khi tốt nghiệp trường 高専 kousen có thể thi và học liên thông lên đại học (bắt đầu từ năm thứ 2 đại học).
Trường dạy nghề (専門学校 Semmon Gakkou = chuyên môn học hiệu): Dạy kỹ năng nghề trong 1 ~ 2 năm.
Hệ thống giáo dục theo độ tuổi
Giáo dục cơ sở
Trường mầm non (幼稚園 youchi'en = ấu trĩ viên): 3 ~ 6 tuổi (3 năm)
Trường tiểu học (小学校 shougakkou = tiểu học hiệu): 6 ~ 12 tuổi (6 năm)
Trường cấp 2 (中学校 chuugakkou = trung học hiệu): 12 ~ 15 tuổi (3 năm)
Trường cấp 3 (高等学校 koutougakkou = cao đẳng học hiệu, hay 高校 koukou = cao hiệu): 15 ~ 18 tuổi (3 năm)
Giáo dục bắt buộc
Pháp luật Nhật Bản quy định phải cho trẻ em đi học 9 năm cho đến khi 15 tuổi, nghĩa là phải học hết tiểu học và cấp 2, nếu không chấp hành sẽ bị phạt tới 100,000 yên.
Khi học cấp 1 và cấp 2 (tiểu học, trung học), do là giáo dục bắt buộc nên không phải đóng học phí (tuy nhiên các khoản chi phí khác như tiền ăn, tiền tham quan,... thì vẫn phải đóng).

Waseda University
Giáo dục bậc caoSau khi tốt nghiệp bậc học cơ sở như trên, học sinh có thể học lên giáo dục bậc cao:
Trường đại học (大学 daigaku = đại học): Thường là 4 năm, trường y là 6 năm
Trường đại học ngắn hạn (短期大学 tanki daigaku = đoản kỳ đại học): 3 năm
Trường chuyên tu (専修学校 senshuu gakkou = chuyên tu học hiệu): 2~4 năm.
Ngoài ra, nếu đã tốt nghiệp cấp 2 hoặc cấp 3 thì có thể thi vào:
Trường dạy nghề chuyên nghiệp (高等専門学校 koutou semmon gakkou = cao đẳng chuyên môn học hiệu, còn gọi tắt là 高専 kousen = cao chuyên): 5 năm
Sau khi tốt nghiệp trường 高専 kousen có thể thi và học liên thông lên đại học (bắt đầu từ năm thứ 2 đại học).
Trường dạy nghề (専門学校 Semmon Gakkou = chuyên môn học hiệu): Dạy kỹ năng nghề trong 1 ~ 2 năm.
Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012
Những con đường du học Nhật Bản
Trong bài này SAROMA JCLASS sẽ giới thiệu với các bạn các con đường đi du học Nhật Bản. Khi bạn biết tất cả mọi con đường rồi thì bạn sẽ chọn được con đường phù hợp nhất với mình.
Con đường thứ nhất: Du học tự túc qua trường tiếng Nhật (tại Nhật Bản)
Các bước như sau:
Bước 0: Học và lấy bằng tiếng Nhật ít nhất cấp 4 (hay sơ cấp).
Bước 1: Tìm một chương trình du học tự túc, thường qua một trung tâm môi giới du học nào đó. Trung tâm sẽ giới thiệu trường tiếng Nhật cho bạn.
Bước 2: Bạn làm hồ sơ, đóng tiền học và vào học trường tiếng Nhật. Bạn sẽ vừa học và vừa làm thêm để trang trải học phí, cuộc sống. Bạn sẽ học tiếng Nhật trong 1 năm - 2 năm.
Bước 3: Bạn sẽ thi vào các trường đại học, các trường cao đẳng hay trường dạy nghề. Nếu đỗ bạn sẽ vào đó học. Khi vào trường học các bạn sẽ được giới thiệu học bổng, để nhận được học bổng bạn phải thi.
Bước 4: Nếu bạn học cao đẳng xong, bạn có thể chuyển tiếp lên học đại học nếu bạn đỗ kỳ thi vào trường đại học đó. Nếu bạn học xong đại học bạn có thể thi lên và học tiếp cao học nếu đỗ.
Điều kiện đi học theo cách này:
- Đã tốt nghiệp cấp 3
- Có điểm tiếng Nhật sơ cấp
- Đủ tài chính cho khóa học tiếng Nhật (6 tháng, 1 năm)
Xem thêm: Tổng quan du học tự túc Nhật Bản
Con đường thứ nhất: Du học tự túc qua trường tiếng Nhật (tại Nhật Bản)
Các bước như sau:
Bước 0: Học và lấy bằng tiếng Nhật ít nhất cấp 4 (hay sơ cấp).
Bước 1: Tìm một chương trình du học tự túc, thường qua một trung tâm môi giới du học nào đó. Trung tâm sẽ giới thiệu trường tiếng Nhật cho bạn.
Bước 2: Bạn làm hồ sơ, đóng tiền học và vào học trường tiếng Nhật. Bạn sẽ vừa học và vừa làm thêm để trang trải học phí, cuộc sống. Bạn sẽ học tiếng Nhật trong 1 năm - 2 năm.
Bước 3: Bạn sẽ thi vào các trường đại học, các trường cao đẳng hay trường dạy nghề. Nếu đỗ bạn sẽ vào đó học. Khi vào trường học các bạn sẽ được giới thiệu học bổng, để nhận được học bổng bạn phải thi.
Bước 4: Nếu bạn học cao đẳng xong, bạn có thể chuyển tiếp lên học đại học nếu bạn đỗ kỳ thi vào trường đại học đó. Nếu bạn học xong đại học bạn có thể thi lên và học tiếp cao học nếu đỗ.
Điều kiện đi học theo cách này:
- Đã tốt nghiệp cấp 3
- Có điểm tiếng Nhật sơ cấp
- Đủ tài chính cho khóa học tiếng Nhật (6 tháng, 1 năm)
Xem thêm: Tổng quan du học tự túc Nhật Bản
Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012
Sinh hoạt phí tại Nhật có mắc không?
Nhiều người thường nghĩ ở Nhật Bản rất đắt đỏ, nhưng thực tế thì cũng không hẳn như vậy. Quả thực là vật giá ở Nhật cao hơn nhiều nước, nhưng nếu bạn đi làm (kể cả đi làm thêm) và có thu nhập thì chi phí tại Nhật không mắc lắm. Ngoài ra tại Nhật có rất nhiều hàng hóa nên bạn hoàn toàn có thể lựa chọn phù hợp với thu nhập của bạn. Theo kinh nghiệm của tôi thì nếu tiết kiệm trong thời gian đi học có thể giảm chi phí sinh hoạt ở mức 40,000 yên ~ 50,000 yên. Với mức lương làm thêm thường là 800 yên ~ 1000 yên/giờ thì cuộc sống ở Nhật Bản hoàn toàn không có gì là khó khăn.

Sau đây là giá một số mặt hàng thiết yếu:
Đồ ăn:
Gạo 5kg: 1500 yên ~ (trung bình: 2000 yên)
Thịt bò: 200 yên/100g ~
Thịt heo: 150 yên/100g ~
Sườn heo: 100 yên/100g ~
Thịt gà: 100 yên/100g ~

Sau đây là giá một số mặt hàng thiết yếu:
Đồ ăn:
Gạo 5kg: 1500 yên ~ (trung bình: 2000 yên)
Thịt bò: 200 yên/100g ~
Thịt heo: 150 yên/100g ~
Sườn heo: 100 yên/100g ~
Thịt gà: 100 yên/100g ~