Look Up

Chìa khóa cần tìm (Key):     >>Trang dịch giả chuyên nghiệp

                  

         

>>Dịch thuật Nhật Việt, Việt Nhật tài liệu chuyên môn, chuyên ngành khó với chất lượng cao    >>Xem hướng dẫn cách dịch thuật ngữ Nhật Việt    >>Cách dịch từ chuyên môn tiếng Việt sang tiếng Nhật    >>Translate Tool Page    >>Bing Translator

Dịch thuật tiếng Nhật chất lượng cao * Dịch tài liệu khó Nhật => Việt, Việt => Nhật

Dịch thuật Nhật Việt chất lượng cao

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2020

"Trẩu" nghĩa là gì?

"Trẻ trâu": Những người hoạt động trên mạng Internet thông qua tính năng bình luận để thể hiện quan điểm của bản thân và "ném đá" (đả kích, phỉ báng) người khác thường là với ngôn từ thô tục, không lịch sự, thể hiện kiến thức hay nhân sinh quan, thế giới quan nông cạn.

"Trẻ trâu" đọc lái lại thì là "trẩu tre" hay gọi tắt là "trẩu". Từ đồng nghĩa có "anh hùng bàn phím".

"Trẻ trâu" là cách gọi khinh miệt, hàm ý là giáo dưỡng thấp chỉ như là trẻ chăn trâu thất học. Tuy vậy, rõ ràng coi thường trẻ chăn trâu cũng lại là sự nông cạn vì đa số trẻ chăn trâu lại có nhân cách tốt. Tức là, những người khinh miệt người khác là "trẻ trâu" cũng có thể chính là "trẻ trâu".

Từ đó, để cho có vẻ "lịch sự" hơn, người ta chế ra từ "sửu nhi" là cách nói chữ hán của "trẻ trâu" (cách nói của người Việt với nhau không liên quan tới tiếng Trung).

Trong từ điển chữ Tôm, các chữ trên được viết như sau:

trẻ trâu: 児'牛"
trẩu tre: 丑°児°
sửu nhi: 丑児

Mặc dù gọi là "trẻ" nhưng những người bị gắn mác "trẻ trâu" có thể không trẻ, là trung niên hoặc người già, chỉ là bị ví rằng giáo dưỡng chỉ ngang với trẻ chăn trâu. Bản thân người gọi người khác là "trẻ trâu" có thể cũng chính là "trẻ trâu" và thậm chí giáo dưỡng còn thấp hơn.

Dịch "trẩu/trẻ trâu" ra tiếng Nhật

Trẩu/trẻ trâu/sửu nhi/anh hùng bàn phím: ネット右翼(ネットうよく) hay gọi tắt là ネットウヨ ネトウヨ (netouyo)

"Netto" (hay neto) là Internet, uyoku (hay gọi tắt uyo) là cánh hữu. Đây là những người hoạt động chỉ trên Internet, theo cánh hữu bài ngoại. Nên nhớ là cánh hữu cầm quyền ở Nhật Bản, đồng thời cũng là tư bản, tài phiệt và thao túng được truyền thông.

Tức là, nói thẳng ra, "trẻ trâu" chỉ là những người bị chăn dắt và không có tiếng nói trong xã hội thực, nên chỉ có thể lên mạng thể hiện "chính kiến", thường là những tư tưởng, kiến thức bị nhồi sọ và sùng bái lãnh đạo và tư bản.

Tức là họ không có cuộc sống tốt mà luôn luôn phải "cống hiến" cho tư bản, nên chỉ có thời gian lên mạng tranh cãi, phỉ báng lẫn nhau.

Như vậy, rõ ràng trẻ trâu là người sống ở thành phố, nhà không có điều kiện, trải nghiệm ít, chứ không phải là "trẻ chăn trâu ở nông thôn" như nghĩa gốc mà từ này nhắm tới.

"Trẻ trâu", những đối tượng mà từ này ám chỉ, hay bản thân từ này, chính là sản phẩm của xã hội tư bản công nghiệp, nơi con người làm việc như nô lệ hay máy móc trong các công xưởng, nhà máy, không có tiếng nói, không có thời gian để sống cuộc sống tự do mà bản thân mong muốn.

Nói cách khác, "trẻ trâu" hiểu là "nạn nhân của xã hội tư bản hoang dã" hay đúng ra gọi là xã hội nửa XXX (mị dân) nửa tư bản.
Takahashi

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2020

"Láu cá" có gốc hán việt không?

Láu cá:
- Thông minh lanh lợi và hay bày trò lừa người khác
- láu và có nhiều mẹo vặt
Ví dụ: giở trò láu cá, thằng bé rất láu cá
Đồng nghĩa: láu tôm láu cá

"Láu cá" không phải từ gốc hán việt.

Đang khi bị đọc chệch thành "láo cá" nhưng cách đọc này không đúng (thường là ở miền nam do viết sai theo cách phát âm của "láu" và "láo" gần giống nhau).

"Láu tôm láu cá" là cách nói nhấn mạnh hay văn vẻ của "láu cá", kiểu như "lý do lý trấu" (đúng ra phải là "lý gio lý trấu"), chứ không thật sự có nghĩa "tôm cá" gì ở đây.

Chữ "láu" thì là láu lỉnh, còn "cá" thì là gì? Có phải là cá trong tôm cá không?

Tôi nghĩ là không phải là "tôm cá" mà là trong "cá cược", "cá độ". Tức là thông minh lanh lợi và hay bày trò đưa người khác vào một trò cá cược nào đó mà mình chắc chắn thắng nhưng tỏ ra không biết, để người khác tưởng là 50/50.

Ví dụ: Hãy coi chừng nếu nó đố bạn ăn tiền vì nó rất láu cá.

Vì thường thì nó chắc chắn sẽ thắng, nhưng tỏ ra như là 50/50 để dụ bạn. Thậm chí nó còn làm bạn cảm thấy phần thắng của mình lớn hơn để bạn tích cực tham gia. Như thế mới gọi là láu cá
Takahashi

"Tháu cáy" có gốc hán việt không?

Tháu cáy: Dùng thủ đoạn ma mãnh để gian lận hoặc trục lợi
Ví dụ: Tay chơi bài tháu cáy
Gốc hán việt của "tháu cáy": 偸鶏 (thâu kê, tức là trộm gà)

Nguồn gốc và cách đọc của "tháu cáy"

"Tháu cáy" là 偸鶏 (thâu kê, tức là trộm gà) và là cách đọc của người Quảng Đông (gọi tắt là người Quảng) của từ này.

偸鶏 = tau1 gai1 (Cantonese)
Vì sao lại là "trộm gà"?

Vì ngày xưa gà là tài sản giá trị, giống như là xe cộ ngày nay vậy. Hoặc giống như cún cảnh mà người ta nuôi. Vì thế, bọn trộm xe hay trộm chó luôn bị khinh ghét và đề phòng. Để trộm được gà thì phải ma mãnh. Sau này từ này trở thành tính từ chỉ sự "tháu cáy".

Hiện nay có một số cách giải thích bị sai rằng "tháu cáy" là 趕鶏 (giản thể: 赶鸡), "cản kê" tức là "đuổi gà". Trước hết thì "đuổi gà" không xấu hay không xấu đến thế, cùng lắm chỉ là trêu trọc gà mà thôi. Ngay cả chủ gà cũng có thể phải đuổi gà kia mà?

Hơn nữa, 趕鶏 không đọc được thành "tháu cáy":

趕鶏 = gon2 gai1 (Cantonese)

Do đó, "tháu cáy" không thể là "đuổi gà" được, mà phải là "trộm gà".

Trong từ điển chữ Tôm, do là cách đọc ngoại lai, "tháu cáy" được phiên thành 偸°鶏°. Chữ này thể hiện nguồn gốc chữ hán của "tháu cáy và các từ gốc tiếng Quảng khác như "sủi cảo", "sủi dìn", "há cảo", "màn thầu", "vằn thắn" vv cũng như thế.

Thật đúng là:
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh
言'郷'拱'拾'久‟長'、
買'楽'也'得'壱'幾'鼓'更
Takahashi

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2020

Ra mắt từ điển chữ Tôm

Chữ Tôm là gì?

Từ điển chữ Tôm tức là từ điển chữ Nôm mới, chỉ dùng các chữ Hán đã có sẵn để ký âm tiếng Việt, nói cách khác, là chuyển mọi âm tiết tiếng Nhật sang chữ tượng hình. Nói nhiều thì dài dòng căn tự, nên đây là ví dụ minh họa:

Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
光‟彩‟底'水'印'天'、
城建'煙'碧'岳'晒'影'黄'

Từ điển dịch hai câu trong Truyện Kiều sang chữ kanji (hán tự) như trên, với ý nghĩa tương đương. Trong câu trên thì có "long lanh" là một từ láy, trong từ điển chữ Tôm, thì từ láy thường được viết theo dạng 〇‟〇‟ tức là dấu nháy kép ngược, và những chữ viết kiểu này thường tùy theo ngữ cảnh, cụm từ mà nó tạo ra mà thay đổi cách đọc, ví dụ:
dở ẹc 拙'極‟, lạ hoắc 異'極‟

Tất nhiên là để làm được như trên tức là dịch một cách tự động thì phải có CƠ SỞ DỮ LIỆU, tôi đã xây dựng cơ sở dữ liệu này. Ví dụ "bóng vàng" phải là bóng màu vàng, chứ không phải bóng của kim loại vàng. Nhưng nếu mà "nghìn vàng" thì lại phải là kim loại vàng, tức là 金':

Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
心'此'送'風'東有'便、
千'金'請'送'到'岳'燕`

Từ điển cũng có thể dịch các bài thơ gốc Hán sang tiếng Hán tương ứng:

Cao nguyên thủy xuất sơn hà cải,
Chiến địa phong lai thảo mộc tinh
高原水出山河改、
戦地風来草木腥

Tức là: Nước chảy ra từ cao nguyên làm thay đổi núi sông, Gió từ chiến địa thổi tới làm cây cỏ bốc mùi tanh

Trong trường hợp này, chữ "mộc tinh" dễ bị phiên thành 木星 tức là Sao Mộc theo thuật toán. Vậy phải làm sao? Khi chọn chữ "tinh" (trường hợp này là 腥 tức là tanh), nếu chỉ xét chữ ngay cạnh là "mộc" thì sẽ chọn sai, nên phải xét cả chữ trước đó, do đó, phải viết thành thuật toán để làm điều này, để tăng tính chuyển đúng cho từ điển chữ Tôm.

Dưới đây là một số đoạn thơ viết bằng chữ Tôm, tức là chữ Nôm mới.

Viết lại Truyện Kiều bằng chữ Nôm mới tự động bằng từ điển chữ Tôm

Nguồn gốc chữ "tài xế" trong tiếng Việt

Chữ "tài xế" có nguồn gốc Hán Việt không?

Gốc Hán Việt của "tài xế" là 大車 [đại xa]. "Tài xế" là cách đọc theo tiếng Quảng Đông (vùng Lưỡng Quảng, Trung Quốc) của "đại xa" do người gốc Hoa mang vào Việt Nam (đặc biệt là miền nam). Trong bài này, tôi sẽ nói về nguồn gốc của chữ "tài xế", vì sao 大車 [đại xa] lại là "tài xế".

Về chữ "xế" thì đây là cách đọc tiếng Quảng của chữ 車 XA.
大車
Cantonese (Jyutping): daai6 ce1
1. cart; big car
2. respectful term for an engine drive or the chief engineer of a ship
3. (Mainland China Hokkien) automobile; motor car; sedan

Chỗ này thì không ai thắc mắc cả. Ví dụ "xế hộp" nghĩa là "xe hơi" (xe ô tô).

Về chữ "tài" thì có ý kiến cho rằng, đó là chữ ĐÀ (舵), tức là "cầm lái" vì:
1. Tài xế nghĩa là người lái xe, nên có lẽ "tài" là "lái"
2. 舵手 [đà thủ] nghĩa là người cầm lái tàu thuyền, ví dụ 偉大舵手 [vĩ đại đà thủ] nghĩa là người cầm lái vĩ đại.
舵工 [đà công] nghĩa là người lái thuyền, thợ lái thuyền.

Vì thế, lái xe sẽ là ĐÀ XA? Điều này không hợp lý, vì ĐÀ là bánh lái tàu thuyền, không dùng cho xe cộ. Trong tiếng Trung, lái xe là 司機 TƯ CƠ.

Hơn nữa, ĐÀ đọc là  to4 trong tiếng Quảng, không phải "tài".

ĐÀ XA là suy luận sai lầm, còn ĐẠI XA 大車 mới đúng là "tài xế".

大車 ĐẠI XA nghĩa là gì?

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2020

"Trịch thượng" hay "trịnh thượng"

Đúng: trịch thượng
Sai: trịnh thượng

Thái độ trịch thượng là thái độ "kẻ cả bề trên", theo từ điển tiếng Việt miễn phí thì là "Tự cho mình là hơn mà ăn nói, xử sự có vẻ bề trên và bất nhã." ví dụ:
Giọng trịch thượng.
Nhìn với con mắt trịch thượng.

"Trịch thượng" có phải là từ gốc hán không?

Thượng (上) là từ gốc hán nhưng Trịch thì có vẻ là không. "Trịch" ở đây là trong nghĩa "cầm trịch" (điều khiển, chỉ dẫn để công việc tiến hành đúng và nhịp nhàng, ví dụ: đứng ra cầm trịch). Vì thế, là người quan trọng bậc nhất.

Ở đây là tỏ ra ta đây là người quan trọng hơn, là bề trên, thì gọi là "trịch thượng".

Chữ hán cũng có chữ Trịch là 擲, nghĩa là ném xuống, gieo xuống, 擲下 (trịch hạ) nghĩa là ném cho, quăng cho, quẳng cho, tức là cho ai cái gì.

Chữ này là gieo súc sắc, hay kiểu như "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao" (Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao), ném tiền vào bàn cá cược vv.

Đôi khi thì chữ 擲上 cũng xuất hiện nhưng nghĩa là ném cái gì, quăng cái gì lên đâu đó.

Còn "Trịnh Thượng" (鄭上) thì là có thể tên người, họ Trịnh, tên Thượng.

Dịch "thái độ trịch thượng" sang tiếng Nhật?

Cách dịch "nguyên quán" sang tiếng Nhật

"Nguyên quán" (chữ Tôm: 元館) là gì? Đó không phải là "quê quán" (là nơi sinh trưởng của cha, hoặc của mẹ nếu không có cha), tức là 故郷 (furusato).

Quê quán = nơi sinh trưởng của cha hoặc của mẹ nếu không có cha

"Nguyên quán" là quê quán gốc của ông bà tổ tiên, theo pháp luật hiện tại thì nguyên quán của bạn ghi theo nguyên quán của cha bạn (hoặc mẹ nếu không có cha), cha bạn lại ghi theo nguyên quán của ông nội, cứ thế .... Tức là ghi lại nguyên quán của tổ tiên xa nhất còn biết được.

Vì thế nó không phải là 出生地 (xuất sinh địa, shusseichi), tức là "nơi sinh".
Nó cũng không phải là 出身地 (xuất thân địa, shusshinchi), tức là "nơi xuất thân" hay nơi sinh trưởng.

Nơi sinh trưởng tức là nơi mà bạn dành phần lớn thời gian thời thơ ấu để phát triển hình hài, nhân cách, thường là nơi sinh ra và lớn lên. Nhưng cũng có khi không phải là nơi sinh ra mà chỉ là nơi lớn lên và trưởng thành (trường hợp sinh xong còn nhỏ đã chuyển chỗ).

Ví dụ, bạn có thể sinh ra và lớn lên ở Long An, cha bạn cũng vậy, sinh ra và lớn lên ở Long An, ông nội có thể sinh ra lớn lên ở Đồng Tháp, nhưng nếu cụ tổ (bên nội) là người có nguyên quán ở Huế (ví dụ nhiều đời trước đó sinh sống ở Huế và ghi nguyên quán ở Huế), thì nguyên quán của bạn vẫn là Huế, dù bạn không sinh ra và lớn lên ở đó, thậm chí, có thể còn chưa bao giờ đặt chân tới Huế.

Cách sử dụng "nguyên quán" như vậy có hợp lý không?

Vì nguyên quán rõ ràng ảnh hưởng rất ít tới nhân cách, tính cách, con người của bạn. Nơi sinh trưởng hay nơi sinh rõ ràng ảnh hưởng nhiều hơn. Ngoài ra, cụ tổ chỉ còn lại rất ít trong con người bạn, vì quá trình tha hương sau đó rõ ràng kết hợp rất nhiều yếu tố di truyền cũng như văn hóa của địa phương khác. Một người di cư từ Huế vào Long An, lấy người Long An, thì rõ ràng yếu tố văn hóa LA lớn hơn rất nhiều, vì con người có tính thích ứng. Thậm chí, một người Huế cũng có thể biến thành người Long An, do thích ứng, chẳng còn chất Huế mấy nữa.

Theo tôi thì nên ghi lai lịch theo "nơi sinh" thì hợp lý hơn.

Dịch "nguyên quán" sang tiếng Nhật như thế nào?

Như trên đã nói, nguyên quán phải dịch đúng nghĩa là quê quán gốc, tức là nguồn gốc tổ tiên từ đâu ra. Dưới đây là cách dịch "nguyên quán" sang tiếng Nhật và tiếng Anh cho đúng.

Tiếng Việt: nguyên quán
Tiếng Nhật: 起源地 (khởi nguyên địa, kigenchi)
Tiếng Anh: place of origin

Takahashi

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2020

"Trước tác" là gì?

Chữ hán của "trước tác": 著作

著作 đúng ra phải đọc là "trứ tác" (trứ trong chữ trứ danh 著名), nhưng chữ 著 cũng có cách đọc là "trước".

著作 có nghĩa là viết thành sách, hoặc sách do ai đó viết. Trong tiếng Nhật cũng sử dụng từ 著作, đọc là ちょさく.

Ví dụ: Trước tác Lenin (trứ tác Lenin) tức là sách do Lenin viết.

Trong tiếng Nhật có các từ liên quan như 著作権 = quyền sở hữu của tác giả viết sách vv.

Nếu bạn viết thành sách thì gọi là 著作する. Ví dụ 彼が著作した本 = quyển sách mà anh ấy viết ra.

Dịch "trước bạ" (thuế trước bạ) sang tiếng Nhật thế nào?

"Trước bạ" là gì?

"Trước bạ" chữ hán là 著簿 (viết theo chữ kanji có thể viết là 着), tức là ghi vào sổ đăng ký. Trước (著) là đến, tới, ghi vào, Bạ 簿 là sổ đăng ký.

"Trước bạ" thường xuất hiện trong thuế trước bạ, phí trước bạ, hay lệ phí trước bạ, tức là tiền lệ phí để được ghi vào sổ đăng ký của nhà nước, ví dụ nhà cửa, đất đai, xe cộ vv.

Ngoài ra còn có "sổ trước bạ", mặc dù "bạ" cũng là "sổ" nhưng trong trường hợp này thì "trước bạ" đóng vai trò là tính từ, tức là việc ghi vào sổ đăng ký của nhà nước, nên đây là sổ để ghi vào việc đăng ký.

Dịch "phí trước bạ" sang tiếng Nhật:
Tiếng Việt: thuế trước bạ, phí trước bạ, lệ phí trước bạ
Tiếng Nhật: 登録料 hay 登記料
Tiếng Anh: registration fee

Nếu muốn nói rõ hơn thì có thể dùng 国に対する登録料 (phí đăng ký với nhà nước) vì 登録料 thì có nghĩa là "phí đăng ký".

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2020

Bảng chữ cái và cách phiên âm chữ tôm

Một trong những lý do khiến chữ nôm khó học là chữ nôm BẮT BUỘC PHẢI THỂ HIỆN CÁCH ĐỌC, ví dụ:

𤾓𢆥𥪞揆𠊛些
Trăm năm trong cõi người ta.
(Chữ nôm)

Chữ "trăm" là ghép của bách 百 và lâm 林, chữ "năm" là nam 南 và niên 年. Như thế thì chữ trở nên rất phức tạp và phải ghép bao nhiêu vạn chữ đây?

Còn chữ tôm thì chỉ dùng để CHỈ Ý, không thể hiện cách đọc, nên sẽ đơn giản hơn. Tuy nhiên, nếu không có cách đọc thì sao biết chữ đọc là gì? Nhất là thời xưa khi chưa có chữ quốc ngữ do Alexandre de Rhodes (A Lếch San Đơ Rốt) phổ biến vào, thì không có hệ chữ latin để phiên âm, thì các tiên nhân ở nước nam phải làm sao?

Tôi xin giới thiệu cách ký âm (ghi âm đọc) cho chữ tôm như dưới đây.

Ví dụ chúng ta quy định rằng phụ âm đầu L sẽ sử dụng Lúa 稲' thì chúng ta có thể phiên cách đọc cho chữ Lương 糧 là Lúa 稲' + Tương 相 chẳng hạn.

Như vậy chữ LƯƠNG được ghi cách đọc bằng HAI CHỮ TƯỢNG HÌNH là 稲'相.

Để chỉ rõ đây chỉ là phiên âm, chúng ta dùng dấu phẩy dưới (còn dấu phẩy ngắt câu thì là 、 giống tiếng Nhật): 稲',相,.

Tất nhiên là trong sách ghi rõ là phiên âm thì không cần phiền phức ghi thêm dấu phẩy dưới như thế.

Đây là bảng chữ cái phụ âm đầu của chữ tôm:


Danh sách cụ thể bảng chữ cái tôm:
  • [Không có phụ âm đầu như AN, YÊN vv/không vần] 〇 = Phụ âm không
  • 牛' = Phụ âm BA
  • 魚' = Phụ âm CA
  • CHÓ 犬' = Phụ âm CHA
  • 羊' = Phụ âm DA
  • ĐÁ 石' = Phụ âm ĐA
  • GẠO 米' = Phụ âm GA
  • GIÁP 甲 = Phụ âm GIA
  • HOA 花 = Phụ âm HA
  • KHUYỂN 犬 = Phụ âm KHA
  • LÚA 稲' = Phụ âm LA
  • MÈO 猫' = Phụ âm MA
  • NÚI 山' = Phụ âm NA
  • NHẬT 日 = Phụ âm NHA
  • NGUYỆT 月 = Phụ âm MHA
  • PIN 電' = Phụ âm PA
  • PHÁO 砲 = Phụ âm PHA
  • QUY 亀 = Phụ âm QUA
  • RÙA 亀' = Phụ âm RA
  • SƠN 山 = Phụ âm SA
  • TÂM 心 = Phụ âm TA
  • THỎ 兎' = Phụ âm THA
  • TRĂNG 月' = Phụ âm TRA
  • VOI 象' = Phụ âm VA
  • XA 車 = Phụ âm XA

Trong chữ tôm thì không có phụ âm L, hay phụ âm X mà chỉ có phụ âm LÚA và phụ âm XA mà thôi, vì L hay X là của người tây, không phải của ta.

Ví dụ chữ SĂM SOI thì phiên thế nào?

SĂM = SƠN + NĂM (vần) = 山年'
SOI = SƠN + VOI = 山象'

Trường hợp không có phụ âm hay vần: 〇

Ví dụ chữ VỘI VÀNG:
Vội = Voi + Hội = 象'会

Vàng thì có thể dùng trực tiếp chữ 金' (vàng), nhưng phiên âm bắt buộc phải có hai ký tự, nên trường hợp này không cần vần nữa, nên dùng dấu tròn:

Vàng = 金'〇

Tương tự, vần ỘI thì có thể dùng vần HỘI, nhưng không phụ âm đầu:

Ội = 〇会

Ối giời ơi = 〇背 甲天' 〇泳'

Ví dụ phiên âm TRĂM và NĂM

Phụ âm có rồi thì chúng ta cần thêm VẦN, cụ thể là vần ĂM, nhưng cũng như phụ âm, vần ĂM là sản phẩm của người tây, chúng ta chỉ có vần TRĂM, hay vần NĂM mà thôi, và đây là một vần.

TRĂM 百' = TRĂNG + NĂM = 月'年'
NĂM 年' = NÚI + TRĂM = 山'百'

Bạn có thể thấy là các chữ này HỖ TRỢ PHIÊN ÂM cho nhau, vì thế cơ bản là chữ tôm không quy định vần, mà là tùy nghi áp dụng. Dùng chữ đã biết để phiên âm cho chữ không biết. Khi nào hệ thống vần ổn định rồi thì mới quy định cụ thể sau.

Phiên âm tiếng nước ngoài

John thì nói thế nào? Trong chữ quốc ngữ chúng ta viết luôn là John, chẳng qua là vì bàn phím gõ ra được. Chứ không phải là chúng ta tôn trọng tiếng Anh mà viết là John. John chẳng qua là Giôn mà thôi, khi nói ra thì John hay Giôn là một.

Nhưng nếu phải viết chữ Himalaya gốc thì sao? Vì Himalaya đã là phiên âm rồi, chứ nó là tiếng Phạn हिमालय, chẳng ai viết thế này, vì có viết và đọc được đâu.

Vì thế, Himalaya và Hi Ma La Y A thực ra chỉ là một.

Phiên âm thế này:
Himalaya = Hi Ma La Y A = 希〇 麻〇 羅〇 〇伊 〇唖

Không có phụ âm, hay không có vần thì sử dụng 〇 để thay thế vào.

John, tức Giôn thì không có âm hán, nên chúng ta phải ghép âm theo quy tắc, ví dụ:

John = Giôn = Giáp + Ôn = 甲温

Hoặc: John = Giôn = Gia + Ôn = 加温

Phiên âm từ ngữ có tính chất tôn kính

Ví dụ từ CHÚA đi, chữ của nó là 主`, dấu ` biểu thị cách đọc hán việt thứ hai, hoặc thông dụng, nếu phiên âm chữ này thì sẽ thành 犬'舞' (Chó + Múa), rõ ràng không nên.

Vì thế, trường hợp từ ngữ có tính tôn kính thì chúng ta sử dụng phụ âm đầu mở rộng bất kỳ, ví dụ trường hợp này dùng ngay chữ 主 CHỦ vì đây là chữ thông dụng:

Chúa 主` = Chủ + Lúa = 主'稲'

Như vậy về ý nghĩa là người chủ ban cho lúa, cũng khá dễ hiểu và hợp lý.

Hay chữ Phật 仏 mà phiên âm là Pháo Mật (砲密) tức là pháo bí mật thì nghe không đúng tính chất cứu nhân độ thế của phật lắm, nên phiên thế này:

Phật 仏 = Phái + Mật = 派蜜

Tức là phái cử mật ngọt tới cho chúng sinh, thì sẽ dễ nghe hơn nhiều.

Bài tập phiên âm chữ tôm

Bài tập 1: Hãy phiên âm A Lếch San Đơ Rốt bằng chữ tôm.

Bài tập 2: Ghi cách đọc (phiên âm) chữ tôm của "thướt tha", "xuề xòa", "mượt mà".

Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2020

Một khái niệm về CHỮ TÔM

Hôm nay tôi xin giới thiệu về một cách ghi tiếng Việt mới, sử dụng CHỮ TÔM. Tôi cũng đã dịch trích đoạn Truyện Kiều bằng chữ Nôm mới (訳摘段伝`翹平'字'南'新') để cho có khái niệm.

Kiểu ghi chữ này gọi là chữ Nôm mới (字'南'新') hay là tân Nôm tự (新南'字). Áp dụng quy tắc viết tắt thì sẽ thành:

Nôm mới = Nới (寛')
tân Nôm = Tôm (蝦')

Do đó, chữ Nôm mới còn gọi là chữ Nới (字'寛') hay là chữ Tôm (字'蝦'). Đây là khái niệm ban đầu về Chữ Tôm (từ nay viết là chữ tôm không viết hoa).

Công việc "ngu công dời núi" (愚公移'山') là sẽ chuyển tất cả các chữ tiếng Việt sang chữ Hán ví dụ:

Tôi yêu mến ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản
我'愛'慕'言語和'文化日本

Như thế, khi người ngoài nhìn vào họ sẽ hiểu được đại khái ý nghĩa của câu nói này, cũng như chúng ta nhìn vào tiếng Hàn vậy.

Đây là một ví dụ trên Wia (tắt của Wikipedia):
悠久한 歷史와 傳統에 빛나는 우리 大韓國民은 3•1 運動으로 建立된 大韓民國臨時政府의 法統과 不義에 抗拒한 4•19 民主理念을 繼承하고, 祖國의 民主改革과 平和的統一의 使命에 立脚하여 正義•人道와 同胞愛로써 民族의 團結을 鞏固히 하고, 모든 社會的弊習과 不義를 打破하며, 自律과 調和를 바탕으로 自由民主的基本秩序를 더욱 確固히 하여 政治•經濟•社會•文化의 모든 領域에 있어서 各人의 機會를 均等히 하고, 能力을 最高度로 發揮하게 하며, 自由와 權利에 따르는 責任과 義務를 完遂하게 하여, 안으로는 國民生活의 均等한 向上을 期하고 밖으로는 恒久的인 世界平和와 人類共榮에 이바지함으로써 우리들과 우리들의 子孫의 安全과 自由와 幸福을 永遠히 確保할 것을 다짐하면서 1948年 7月 12日에 制定되고 8次에 걸쳐 改正된 憲法을 이제 國會의 議決을 거쳐 國民投票에 依하여 改正한다.

Nếu bạn biết chữ hán, bạn còn chẳng cần học tiếng Hàn để đọc được đoạn này! Đây là đoạn mở đầu của "háp Huốc" (hiến pháp Hàn Quốc).

Về tên gọi "chữ tôm"

Gọi là chữ Nới hay chữ Tôm là hợp lý, vì đây không phải là một dạng chữ hoàn toàn mới, mà phát triển và kế thừa từ chữ Nôm (cũ) và chữ quốc ngữ (tây học) ra, tức là NỚI thêm ra. Ngoài ra, chữ này là "chữ Tôm" vì nó mới ra đời, so với hai loại chữ có hàng trăm năm lịch sử kia, thì mới chỉ là "tuổi tôm" mà thôi. Nhưng tôi tin rằng chữ này sẽ phát triển rực rỡ trong 10 năm tới.

Gọi là chữ tôm thay vì là chữ nôm mới, bởi lẽ chữ này tuy có cùng ý tưởng là hán tự hóa tiếng Việt như chữ nôm cũ (tức là chữ nôm mà bạn biết tới ngày nay), nhưng sử dụng một phương pháp hoàn toàn khác, nên nếu nói là "chữ nôm mới" thì sẽ gây hiểu nhầm về phương pháp, tạo ấn tượng sai lầm là chữ này khó học hay khó phổ biến.

Về từ láy và chữ tượng thanh

Ví dụ:
Tượng thanh: Gõ lộp bộp, đầm thùm thụp, vỗ phành phạch
Từ láy: Trăng trắng, đen đúa, chợ búa, thuế má

Đây là một vấn đề mà chữ tôm sẽ phải đối mặt và giành thắng lợi, thì mới có thể tiến xa được.

Trong các từ láy trên thì "trăng", "đúa", "búa", "má" chỉ là luyến láy thêm, để nhấn mạnh hay văn vẻ, mà không mang ý nghĩa (đúa) hay ý nghĩa không liên quan (trăng không phải là Moon, búa không phải là HAMMER, má không phải là CHEEK).

Do đó, trường hợp nay tôi đề nghị sử dụng khái niệm CHỮ LÁY SAU 〱 như sau:

trăng trắng = 〃白' (láy gần y nguyên)
đen đúa = 黒'〱
chợ búa = 市'〱
thuế má = 税'〱

Từ tượng thành "lộp bộp" thì sẽ không có âm hán tương ứng, nên lấy chữ gần đúng là "bộc" 僕 và luyến láy đi một chút, sử dụng dấu tròn như sau:

lộp bộp = 〃僕° (dùng chữ BỘC để luyến)
thùm thụp = 〃蜀° (dùng chữ THỤC để luyến)
phành phạch = 〃白° (dùng chữ BẠCH để luyến)

Trường hợp này không lo nhầm 〃白° là "bành bạch" bởi lẽ, dấu tròn trong 白° có nghĩa là LUYẾN LÁY đi một chút rồi.

Nếu nói là "bành bạch" thì chỉ cần nói là 〃白 mà thôi (^o^).

Ví dụ:

Đêm nay trăng sáng vằng vặc, làm tôi nhớ về quê hương bản quán.
夜'今'娥'光'〃域°、働'我'恋'帰'邦'郷本館。

有'易'暁不'尔°?
-Takahashi-

Một lối viết tắt tiếng Việt (tốc ký)

Chúng ta có thể viết tắt như sau:

ngân hàng = ngàng (hay nghiêm ngặt thì là ng'àng)
Hà Nội = Hội / H'ội
=> chuyến bay đi Hà Nội sắp bắt đầu khởi hành = chay đi Hội sắp bầu khành
Đà Nẵng = Đẵng / Đ'ẵng
đông như quân Nguyên (xem kanji) = đuyên / đ'uyên

cổ phiếu = c'iếu hay kiếu
đầu tư = đư
chứng khoán = choán
công nghệ thông tin = cệ thin

Cách ứng dụng là bạn có thể tốc ký để đỡ tốn công ghi chép nhiều. Ví dụ "giám đốc" có thể ghi là "j'ốc". Nếu đã quy định sẵn thì sau này có thể cứ thế viết và đọc rất nhanh, nhất là các bạn làm nghề dịch nói cần ghi chép nhanh.

Giám đốc công ty = jốc cy

Ví dụ bạn cần ghi chú công việc:

Hẹn gặp giám đốc công ty đối tác chiều thứ hai bàn công việc
=> Hặp giốc cy đác chiều thai bàn ciệc
(H'ặp gi'ốc c'y đ'ác chiều th'ai bàn c'iệc)

Vắt (viết tắt) kày (kiểu này) thì cể (có thể) còn bật (bảo mật) nữa kia.

"Suồng sã", "thành thật", "tinh tươm" thì viết tắt thế nào?

Không thể viết như trên được, mà có thể thêm dấu nháy trước, ví dụ:

suồng sã = ssã hay 'sã (hay s'ã)
thành thật = tthật hay 'thật (thay th'ật)
tinh tươm = ttươm hay 'tươm (hay t'ươm)
chân chất = cchất hay 'chất  (hay ch'ất)

Viết tắt cả tiếng nước ngoài và địa danh