Look Up

Chìa khóa cần tìm (Key):     >>Trang dịch giả chuyên nghiệp

                  

         

>>Dịch thuật Nhật Việt, Việt Nhật tài liệu chuyên môn, chuyên ngành khó với chất lượng cao    >>Xem hướng dẫn cách dịch thuật ngữ Nhật Việt    >>Cách dịch từ chuyên môn tiếng Việt sang tiếng Nhật    >>Translate Tool Page    >>Bing Translator

Dịch thuật tiếng Nhật chất lượng cao * Dịch tài liệu khó Nhật => Việt, Việt => Nhật

Dịch thuật Nhật Việt chất lượng cao

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

Tại sao "Iku zo" (行くぞ) nhưng lại "Ikou ze" (行こうぜ) ?

 "Zo" hay "ze" là sắc thái từ để cuối câu để biểu thị sắc thái thông báo thông tin cho người khác biết. Nghĩa của chúng giống nhau. Và cũng giống với "yo", biểu thị thông báo thông tin "đây, đấy, đâu" như S đã nói trước đây:

行きますよ = Tôi đi đây

彼は学生ですよ = Cậy ấy là học sinh đấy

好きじゃないよ = Tôi có thích đâu

"Zo" cũng như vậy nhưng chứng tỏ sự suồng sã:

だめだぞ! Đếch được đâu!

Ví dụ như thế. Nhưng tại sao nói 行くぞ = "Iku zo" nhưng dạng ý chí thì lại là 行こうぜ = "Ikou ze"?

Bởi vì nói thế sẽ thuận miệng hơn. Nếu nói "Ikou zo" thì có hai âm tiết cùng là "ô" dễ bị lẹo lưỡi.

Dịch nghĩa:

行くぞ = Đi đây / Lượn đây

行こうぜ (ý chí, "let's", chúng ta hãy) = Lượn nào! / Đi nào! (Bọn mình đi nào)

Ví dụ:

今度こそ気合いを入れてN1に合格するぞ!

今度こそ気合いを入れてN1に合格しようぜ!

Nhưng học mấy cái này thì được gì, chẳng phải cứ học dạng chuẩn よ và áp dụng cho an toàn?

Không học thì chưa chắc đã an toàn, vì tuy đây là ngôn ngữ nói, nhưng lại rất phổ biến. Tất nhiên bạn không thể nói với người vai vế trên hay trong hoàn cảnh trang trọng dạng "zo", "ze" được, nhưng bạn vẫn có thể sử dụng với ngữ cảnh diễn tả suy nghĩ nội tâm vv của bạn. Như thế, bạn sẽ là người biết cách sử dụng ngôn ngữ phù hợp hoàn cảnh, vì thế sẽ được nể trọng. Ví dụ, trong cuộc họp trang trọng bạn vẫn có thể nói:

これから会社のために、社長のために、命を投げ出しても新製品を開発しようと考えております。

Tuy sử dụng "ze" là ngôn từ suồng sã, nhưng đây là sự diễn tả nội tâm quyết tâm hi sinh vì công ty, vì "xã trưởng" (trưởng của "hội xã", tức giám đốc công ty), nên càng đáng quý. Thực tế nói thế này thường được yêu mến hơn là lúc nào cũng lịch sự 100%, vì trong nội tâm mà vẫn còn lịch sự thì đúng là kẻ yếu đuối, vô năng, làm sao có thể hi sinh vì công ty, vì xã trưởng cho được?

Ngoài ra, cũng nên nhớ rằng, những người như "xã trưởng" sẽ dùng "zo", "ze" thường xuyên nên bạn cũng phải thành thạo để nghe cho quen.

Nhân tiện, vì sao lại dùng "zo" thay cho "yo"?

Takahashi

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2020

"Đãi bôi" có phải từ gốc Hán không?

 Sau "mầu nhiệm" tôi lại thừa thắng xông lên với "đãi bôi". Vì sao cứ phải KHỔ TÂM KHỔ NÃO như thế? Vì cuộc đời là như thế! Chúng ta phải học tới cùng, xem nó đi tới đâu. Làm vì đam mê thôi!!

ĐÃI BÔI cũng chưa có cao nhân nào giải thích thấu đáo nguồn gốc ngữ nghĩa của nó, nên chúng ta cũng thử mổ xẻ xem có gì hay.

"Đãi bôi" tức là mời người khác (tới chơi, tới ăn uống vv) nhưng không thật lòng có ý đó. Đây là từ của người miền bắc, còn người miền nam sẽ nói là "mời lơi".

Ví dụ: Nó chỉ nói đãi bôi thế thôi, chứ chẳng bao giờ mời ai tới nhà ăn bao giờ.

A: Lúc nào rảnh em ghé nhà anh chơi nhé.

B: Lại mời đãi bôi đấy à?

"ĐÃI" là mời, là từ gốc Hán 待 ĐÃI, ví dụ CHIÊU ĐÃI 招待, ĐỐI ĐÃI 対待 vv. Còn BÔI là gì?

Có người giải thích BÔI là BỘI trong phản bội, tức là nói mà lại phản bội lại lời hứa của mình không thực hiện. Tuy nhiên, về ngữ nghĩa Hán văn lẫn Việt văn đều có vấn đề lớn, vì trước hết không ai nói ĐÃI BỘI cả, ghép hai chữ Hán lại đúng là khiên cưỡng và sai về ngữ nghĩa. Vì hai chữ nghĩa quá khác nhau để có thể hiểu đúng khi ghép với nhau. Người ta ghép hai chữ gần nghĩa, đồng nghĩa ví dụ PHẢN BỘI, BỘI BẠC (cả hai chữ ghép đều có ý như nhau).

Ngoài ra, dùng tới chữ "phản bội" có phải nặng nề rồi không? Chỉ vì người khác mời xã giao rồi "chưa" thực hiện mà kết cho người ta thành người xấu thì đâu phải truyền thống tương thân tương ái của người VN?

Bản chất của mời đãi bôi là việc xã giao, làm sao cho êm thấm, lịch sự, không mất lòng nhau. Có lời mời thì tốt hơn là lặng thinh, tỏ ý coi khinh chứ? Người ta bảo "Lời chào cao hơn mâm cỗ" kia mà?

Mời nghĩa là vẫn có sự hòa khí nhất định, chứng tỏ cũng có sự tôn trọng. Còn không mời nghĩa là còn chẳng thèm giữ quan hệ.

Do đó, bản chất ở đây là phép xã giao, nhưng phép xã giao thì bao giờ cũng không thật lòng. Không chỉ ở VN, mà phương tây cũng thế. Người phương tây hay người Nhật Bản có thể rất lịch thiệp, nhưng không bao giờ mời về nhà chơi. Nếu ngỏ ý tới nhà họ chơi thì họ viện đủ lý do rất ư là hợp lý như nhà cửa bề bộn vv để xin miễn. Đây cũng là xã giao, chẳng lẽ kết luận họ không thực lòng hay sao?

Vì thế, chữ BÔI không thể là chữ Hán được, mà là chữ thuần Việt.

BÔI đơn giản là bôi ra, vẽ ra (bôi vẽ thêm) để cho có chuyện mà nói, để giữ phép lịch sự, chứ sẽ không thực hiện.

ĐÃI BÔI tức là mời xã giao, lời mời bôi thêm ra để không khí nhẹ nhàng, bớt căng thẳng, giữ phép xã giao và hòa khí.

ĐÃI BÔI = MỜI LƠI

Người nam bộ thì không nói "đãi bôi" mà nói "mời lơi". MỜI LƠI là thế nào?

LƠI tức là buông lơi, lả lơi, tức là thả ra (mà không bắt lại). Ăn mặc là lơi tức là ăn mặc kiểu thả hết cả bên trong ra, đốt mắt người khác nhưng không có ý để mồi chài một ai cụ thể, tức là để "tóm" con cá nào đó, buông lơi là thả ra không bắt lại, trúng ai thì trúng.

MỜI LƠI nghĩa là buông lời mời ra nhưng không "bắt lại", tức là không giữ lời, không thực hiện. Mời thì mời vậy thôi, nhưng đời nào thực hiện cho tốn kém! ^^

Đương nhiên, "mời lơi" thì không phải có nguồn gốc chữ Hán.

Takahashi

"Mầu nhiệm" có phải gốc chữ Hán không?

"Mầu nhiệm" hay "nhiệm mầu" (cũng nói là "màu nhiệm" hay "nhiệm màu") là nói về thứ gì đó có tác dụng một cách tài tình và ta cảm nhận được tác dụng của nó, nhưng lại cao siêu, kín đáo, khó nhận biết được.

Ví dụ: cuộc sống nhiệm mầu, phương thuốc mầu nhiệm

Chưa có bài nào phân tích thấu đáo về nguồn gốc chữ Hán của "mầu nhiệm" và đây là bài đầu tiên. Đây có thể là gốc chữ Hán của "mầu nhiệm":

Tiếng Việt: "mầu nhiệm", chữ Tôm/Hán tự: 妙°験° [âm Hán Việt: diệu nghiệm] 

Nguồn: Từ điển Hán Tôm - Phương Mai Từ Điển

Phân tích:

Ở đây, "mầu" hay "màu" chắc chắn không phải là màu sắc và "nhiệm" không phải là ủy nhiệm, nhiệm vụ. Mặc dù thế, chữ "mầu nhiệm" này lại rất có vẻ là từ gốc Hán. Nhìn kỹ ý nghĩa của nó thì ta thấy là nó có hai phần nghĩa một là "tác dụng mà ta cảm nhận thấy" và "cao siêu, kín đáo, khó hiểu", từ đây sẽ gợi ý cho chúng ta cách lần ngược về gốc Hán của nó. Quan trọng là QUÁ TRÌNH TƯ DUY NGÔN NGỮ, chứ thành quả chỉ là kết quả sau cùng.

Trong tiếng Hán, việc cảm nhận thấy, hay nghiệm ra, tức là kinh nghiệm, trải nghiệm sẽ thường hay sử dụng chữ 験 NGHIỆM.

Còn thứ cao siêu, khó nắm bắt thì chúng ta hay sử dụng 妙 DIỆU, ví dụ kỳ diệu, huyền diệu, tuyệt diệt, vi diệu, vv.

Khi kết hợp hai chữ Hán này ta có nghĩa trùng khớp với "mầu nhiệm", hơn nữa, cách đọc lại rất giống nhau, nên tôi cho rằng, nguồn gốc của MẦU NHIỆM chính là 妙験 DIỆU NGHIỆM.

Tức là chữ này đã được Việt hóa tới mức gần giống như tiếng Việt, giống như từ chợ búa hay góa bụa.

Các bạn cũng có thể tra các từ khác trên từ điển Hán Tôm - Từ điển Yurica.

Takahashi

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2020

Giới thiệu cách viết kanji 2021

 Chào các bạn, trước đây S đã giới thiệu trang hướng dẫn cách viết kanji rồi nhưng hôm nay sẽ  giới thiệu một trang mới với cách viết theo từng nét bằng cả hình ảnh lẫn hình ảnh động animation, đó là trang Jisho.org.

Giao diện trang:


Trang này có đầy đủ thông tin cũng như các từ vựng liên quan tới chữ kanji và có dịch sang nghĩa tiếng Anh. Với các bạn muốn tra âm Hán Việt thì có thể sử dụng từ điển kanji Yurika và hiện từ điển kanji này cũng có liên kết tới từ điển Jisho trên để có thể tra cách viết kanji nhanh chóng với bạn nào có nhu cầu.

Nếu bạn muốn tra chỉ chữ kanji thì nhập vào ô tìm kiếm ví dụ 動 #kanji. Nếu bạn muốn mở bằng liên kết thì ví dụ:

https://jisho.org/search/動20%23kanji

Với các bạn muốn tích hợp cách viết kanji (animation) vào trang web của mình

Trang Jisho nói trên sử dụng thư viện cách viết chữ kanji bằng vector (định dạng svg) do một người phương tây tên là Ulrich Apel lao động XHCN tạo ra, bạn có thể tải về tại đây:

Thư viện cách viết kanji vector: http://kanjivg.tagaini.net/

Sau đấy bạn dùng công cụ vẽ đồ họa bằng Javascript gọi là Raphael và áp dụng của nó là DMAK (Draw Me A Kanji), xem các hướng dẫn dưới đây:

Với công cụ này bạn có thể tùy chọn nhiều tham số như nét vẽ, màu nét vẽ, tốc độ v.v. và công cụ này được tích hợp trên trang Jisho.org cũng nhất tất cả các trang web sử dụng vẽ vector khác.
Takahashi

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2020

Nguồn gốc chữ Hán của "góa bụa", "chợ búa" và cách tra gốc Hán của từ vựng tiếng Việt

Các từ tiếng Việt như "góa bụa", "chợ búa" thì nhìn rất giống từ thuần Việt nhưng sự thực lại là gốc Hán:

Chữ Hán của "Góa bụa"

Tiếng Việt: "góa bụa", chữ Tôm/Hán tự: 寡'婦‟ [âm Hán Việt: quả phụ]

Chữ Hán của "Chợ búa"

Tiếng Việt: "chợ búa", chữ Tôm/Hán tự: 市'舖‟ [âm Hán Việt: thị phố]

Thực tế thì góa bụa là cách nói Việt hóa của "quả phụ", vì thế từ này chỉ dùng cho phụ nữ, không dùng cho nam giới. Với nam giới thì phải nói là "góa vợ".

Chợ búa là chỉ việc đi mua sắm nói chung, mở rộng ra là những người bán hàng ở chợ (là cách nói Việt hóa của "thị") và ở cửa hàng, tức là "phố".

Cách đơn giản nhất để tra gốc Hán của từ vựng tiếng Việt là sử dụng từ điển chữ Tôm.

Đây là từ điển duy nhất hiện nay có thể chuyển từ tiếng Việt sang chữ Hán sử dụng thuật toán thông minh, và có thể tra được gốc tiếng Hán của các từ, ví dụ như "tháu cáy" chẳng hạn.

Takahashi

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

DU HỌC NHẬT BẢN 2020-2021 TIẾT KIỆM - GIẢM 50% PHÍ HỒ SƠ

Chi tiết và đăng ký: iSea

Công cụ chuyển tên tự động sang Hán tự

Hôm nay S giới thiệu công cụ để bất kỳ ai, già trẻ trai gái lớn bé, đều có thể tự chuyển tên mình sang Hán tự (chữ kanji) một cách dễ dàng, chỉ cần nhập tên vào, ở dạng viết hoa chữ cái đầu, tức là Nguyễn Văn Sa Rô Ma Lang (gọi là Proper Case) chứ không phải viết hoa hết (LANG) hay viết thường (lang).

Đó là TỪ ĐIỂN CHỮ TÔM.

Tôi cũng mới lướt web và tìm ra từ điển này. Từ điển này sẽ chuyển các âm tiết tiếng Việt sang chữ tượng hình, gọi là "chữ Tôm" mà tôi đã giới thiệu lâu nay.

Ví dụ:

Long lanh đáy nước in trời, Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng

瓏°玲°底'水'印'天'、城建'煙'碧'岳'晒'影'黄'

Để tra tên của bạn thì bạn viết tên họ ở dạng Proper Case rồi chuyển, ví dụ:

Nguyễn Văn Sa Rô Ma Lang = 阮文砂瀘°魔郎

Tất nhiên là chữ "Rô" thì không có âm Hán, nên được chuyển thành chữ Tôm 瀘°. Từ điển này đã thu nạp các họ của người Việt, gồm hơn trăm họ, kể cả họ hiếm như họ Liêng, Lò, Nùng, Chế vv.

Ngoài ra, để chuyển tên nữ thì bạn thêm chữ "nữ" hay "female" đằng sau, còn chuyển tên nam thì thêm "nam" hay "male" đằng sau. Ví dụ:

Hoàng Thanh Phương female = 黄清芳

Hoàng Thanh Phương male = 黄青方

Ngoài ra, nếu họ bạn là họ Phương thì sẽ chuyển đúng thành 方, ví dụ:

Phương Phương Thảo = 方芳草

Bởi vì đây là từ điển thông minh, nên sẽ tự nhận ra đâu là họ, đâu là tên, đâu như ai kia!

Các ví dụ khác:

Trịnh Văn Sửu Nhi = 鄭文丑児
Lò Tha Hóa = 炉'他化
Dương Ngọc Thiên Lý = 楊玉千理
Lê Pha Lê = 黎玻璃`
Đúng hoàn toàn! Những âm tiết không có Hán tự chuẩn tương ứng sẽ chuyển thành chữ Tôm.

Mẹo tra tên đúng như ý thích

Tôi ví dụ bạn Trần Huy Hoàng, có khá nhiều chữ "hoàng" và nếu tra thì ra:

Trần Huy Hoàng= 陳輝煌

Chữ huy hoàng 輝煌 này có nghĩa là tươi sáng rực rỡ, như trong "tương lai huy hoàng", nhưng bạn không thích chữ này mà muốn đổi chữ Huy trong Chỉ Huy và chữ Hoàng trong Hoàng Đế thì sao?

Thì có thể tra:

Trần Chỉ Huy Hoàng Đế rồi xóa bớt đi:

Trần Chỉ Huy Hoàng Đế = 陳指揮皇帝 => 陳揮皇

Thế nhé!

Takahashi

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2020

Từ láy tiếng Việt

 Bài này tổng kết về một số dạng từ láy trong tiếng Việt, trong quá trình xây dựng từ điển chữ Tôm. Từ láy là từ gồm hai âm tiết trở lên, có vần điệu theo một cách nào đó và có ít nhất một âm tiết (syllable) không có nghĩa hay không thể đứng riêng một mình hay là một âm tiết đơn với nghĩa không liên quan (chỉ là đồng âm, ví dụ "sỗ sàng" thì "sàng" không phải là âm Hán Việt chỉ "giường").

"Đau đớn" là từ láy, cùng với "đớn đau" vì nó vần và hơn nữa, chúng ta không dùng "đớn" đứng riêng.

"Bồi hồi" không phải từ láy tiếng Việt, mà là từ gốc Hán 徘徊 (tiếng Nhật là "haikai"), có thể coi là "từ láy gốc Hán". "Bàng hoàng, phảng phất" cũng như vậy.

Láy vần (láy trước)

Ví dụ: bươm bướm, lanh lảnh, trăng trắng, đo đỏ, vv.

Âm tiết trước và âm tiết sau có cùng phụ âm đầu, hai âm tiết cùng vần nhưng âm tiết đầu là thanh không (không thanh điệu) còn âm tiết sau có thanh điệu.

Chữ Tôm sẽ dùng ゞ để ghi láy trước kiểu này, ví dụ lanh lảnh = ゞ lảnh.

Với âm tiết sau "nặng" thì sẽ như thế này: dằng dặc, phành phạch, tất tật vv.

Láy trước "L"

Ví dụ: lảm nhảm, lác đác, lôi thôi, lướt thướt, lượt thượt, luộm thuộm, lèm bèm, lèm nhèm, lăn tăn, lải nhải, v.v.

Mô ta: Láy âm trước vần L cùng vần với âm sau. Âm sau có thể có nghĩa riêng (ví dụ nhảm) nhưng thường là cả hai âm không có nghĩa riêng mà hợp thành từ láy mới có nghĩa.

Trong từ điển Tôm, láy trước "L" có thể được ký hiệu là ゝ, ví dụ lác đác = ゝđác.

Láy "iếc"

Ví dụ: nước niếc, yêu iếc, quà kiếc, công việc công viếc v.v.

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

Cách giải thích mới về chữ "má" trong "chó má, thuế má, giấy má"

 Trước đây đã có nỗ lực giải thích về chữ "má" trong "chó má", kiểu như tiếng Tày gọi con chó là "tu ma", nên "má" có lẽ là tiếng Tày mà ra.

Nhưng cách giải thích này có vấn đề, vậy còn "thuế má" và "giấy má" thì thế nào, không lẽ cũng liên quan đến "chó"?

"Thuế má" có lẽ cũng không phải là đọc chệch của "thuế khóa" như một số giả định, vì cách đọc quá khác nhau, và cũng lại không giải thích được cho "chó má" và "giấy má".

Nhiều khả năng chữ "má" trong ba từ này là giống nhau:

  • Chỉ những thứ phiền nhiễu, không muốn động vào nhưng phải động vào để giải quyết
  • Âm tiết đầu tiên đều là dấu sắc

Từ đó, chúng ta thấy "má" có thể là một dạng âm láy dùng cho các âm có dấu sắc, chỉ những thứ phiền phức, muốn tránh xa.

Hãy bàn về sắc thái của "chó má, thuế má và giấy má":

  • Chó má: Không chỉ chó mà chỉ người, có cách cư xử như chó, ví dụ "bọn chó má", rất không muốn động vào nhưng không tránh được.
  • Thuế má: Xử lý sự vụ thuế và rất phiền hà, nhiêu khê, nhất là một nơi mà quan chỉ chuyên tham nhũng và hành dân.
  • Giấy má: Vấn đề giấy tờ chẳng vui vẻ và không muốn giải quyết. Đây không phải là giấy chứng nhận sở hữu nhà, hay tương tự, mà là vấn đề tính công, kế toán vv cực kỳ đau đầu, không làm thì lại không xong.

Như vậy có thể thấy, "má" chỉ các vấn đề ác và phiền, phải chăng nó là từ chữ MA (魔) trong MA QUỶ (魔鬼) mà ra?

Nếu là vấn đề "ma" thì rõ ràng chúng ta muốn tránh càng xa càng tốt, nhưng vẫn phải làm thì biết làm sao, chắc chắn sẽ bị ám quẻ rồi.

Vì thế, chúng ta gọi là bọn "chó ma", "thuế ma", "giấy ma" và chửi thề như thế, nhưng thế thì không thuận miệng lắm, vì sau dấu sắc mà lại dấu không thì khó phát âm.

Từ láy thường bao giờ cũng cùng loại dấu thanh: luyên thuyên, lằng nhằng, lải nhải vv.

Do đó, nó sẽ được nói thành "chó má", "thuế má", "giấy má". Trong từ điển chữ Tôm sẽ được ký âm chữ Hán như sau:

chó má, thuế má, giấy má = 狗'魔°、税魔°、紙'魔°

Thế nhé!

Takahashi

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

"Thụ thụ" trong "thụ thụ bất thân" nghĩa là gì?

nam nữ thụ thụ bất thân = 男女授受不親: nam nữ đưa và nhận đồ không được tiếp xúc da thịt với nhau (bất thân)

Trong cụm này thì có hai chữ "thụ" nhưng ý nghĩa khác nhau, ngược nhau hay đúng ra là một cặp đối nhau.

授 thụ = đưa cho (có bộ "thủ" 手 tức là tay), ví dụ giáo thụ, truyền thụ
受 thụ = nhận lấy (không có bộ "thủ"), ví dụ thụ động, thụ hưởng

"thụ thụ" 授受 tức là "đưa và nhận".
"bất thân" 不親 tức là "không tiếp xúc nhau, không chạm nhau".

Vậy chữ thụ nào đứng trước? Phải là 授 thụ vì phải có người đưa rồi mới nhận được, đây là thứ tự thời gian theo đúng luật nhân quả.

Nhưng trong từ điển chữ Tôm thì không dễ để đưa ra chữ "thụ" đúng vì trong tiếng Việt hai "thụ" y chang nhau.

Với tâm huyết làm từ điển chữ Tôm (chữ Nôm mới) chuẩn xác, chúng ta cần một thuật toán để đưa ra quyết định đúng. Chúng ta, dùng não người mà vật chất chủ yếu là bã đậu, có thể suy luận như trên, nhưng với từ điển chữ Tôm thì hai chữ "thụ" chỉ là một mà thôi.

Để cho dễ thì chúng ta đánh số các chữ "thụ": nam nữ thụ (1) thụ (2) bất thân

thụ (1) = 授
thụ (2) = 受

Ví dụ ta lưu cả hai chữ vào cơ sở dữ liệu với thứ tự 受 trước 授, và không có câu trên tham chiếu (reference), thì cả hai chữ thụ đều cho ra 受.

Bây giờ, nếu ta lưu cả hai chữ thụ với tham chiếu là câu trên thì sao?

受 => Reference: nam nữ thụ thụ bất thân
授 => Reference: nam nữ thụ thụ bất thân

Cả "thụ (1)" lẫn "thụ (2)" đều sẽ thấy tham chiếu ở 受 ngang với tham chiếu ở 授 nhưng do 受 xếp trước (chỉ là tình cờ) nên đều cho ra chữ 受.

Nếu tham chiếu như sau:

受 => Reference: [trống]
授 => Reference: nam nữ thụ thụ bất thân

Nếu thế thì cả thụ (1) và thụ (2) đều chỉ thấy tham chiếu ở 授 nên đều cho ra kết quả là 授.

Cách giải quyết: Gán thụ (1) cho 授 và thụ (2) cho 受

Sở dĩ kết quả không như ý là bởi vì máy tính nhìn hai "thụ" giống hệt nhau, chứ không thể (hay chưa thể) suy luận như chúng ta được. Chúng ta cũng không suy luận ra nếu chỉ nhìn tiếng Việt, chẳng qua là chúng ta biết trước 男女授受不親, tức là cũng gọi là chẳng thông minh gì mấy.

Do đó, chúng ta phải giảng làm sao để máy tính hiểu được. Vậy thì, nếu chúng ta giảng rằng 受 phải là chữ thụ thứ hai, tức thụ (2), thì phải xóa chữ thụ (1) đi, nên tham chiếu sẽ như sau:

受 => Reference: nam nữ X thụ bất thân

Tức là 受 chính là chữ "thụ" đi ngay trước "bất thân", chứ không phải "thụ" đi sau "nam nữ".

授 cũng được giảng như vậy:
授 => Reference: nam nữ thụ X bất thân

Như vậy, khi xét thụ (1) chúng ta có "nữ thụ", "thu thụ", thì chúng ta chỉ thấy tham chiếu "nữ thụ" ở 授, nên sẽ chọn 授 này.

Khi xét thụ (2) chúng ta có "thụ thụ", "thụ bất" và chỉ tìm thấy tham chiếu "thụ bất" trong 受.

Cuối cùng cho ra kết quả đúng trên từ điển chữ Tôm.

Ngoài ra, có thể không cần dùng X để thay thế mà chỉ cần biến đổi đi một chút để không tìm được tham chiếu "nữ thụ", "thụ thụ" hay "thụ bất" nên có thể dùng dấu ngoặc chẳng hạn:

受 => Reference: nam nữ [thụ] thụ bất thân
授 => Reference: nam nữ thụ [thụ] bất thân

Như thế vẫn đọc đúng được mà từ điển vẫn chọn đúng.
Takahashi

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2020

"Trẩu" nghĩa là gì?

"Trẻ trâu": Những người hoạt động trên mạng Internet thông qua tính năng bình luận để thể hiện quan điểm của bản thân và "ném đá" (đả kích, phỉ báng) người khác thường là với ngôn từ thô tục, không lịch sự, thể hiện kiến thức hay nhân sinh quan, thế giới quan nông cạn.

"Trẻ trâu" đọc lái lại thì là "trẩu tre" hay gọi tắt là "trẩu". Từ đồng nghĩa có "anh hùng bàn phím".

"Trẻ trâu" là cách gọi khinh miệt, hàm ý là giáo dưỡng thấp chỉ như là trẻ chăn trâu thất học. Tuy vậy, rõ ràng coi thường trẻ chăn trâu cũng lại là sự nông cạn vì đa số trẻ chăn trâu lại có nhân cách tốt. Tức là, những người khinh miệt người khác là "trẻ trâu" cũng có thể chính là "trẻ trâu".

Từ đó, để cho có vẻ "lịch sự" hơn, người ta chế ra từ "sửu nhi" là cách nói chữ hán của "trẻ trâu" (cách nói của người Việt với nhau không liên quan tới tiếng Trung).

Trong từ điển chữ Tôm, các chữ trên được viết như sau:

trẻ trâu: 児'牛"
trẩu tre: 丑°児°
sửu nhi: 丑児

Mặc dù gọi là "trẻ" nhưng những người bị gắn mác "trẻ trâu" có thể không trẻ, là trung niên hoặc người già, chỉ là bị ví rằng giáo dưỡng chỉ ngang với trẻ chăn trâu. Bản thân người gọi người khác là "trẻ trâu" có thể cũng chính là "trẻ trâu" và thậm chí giáo dưỡng còn thấp hơn.

Dịch "trẩu/trẻ trâu" ra tiếng Nhật

Trẩu/trẻ trâu/sửu nhi/anh hùng bàn phím: ネット右翼(ネットうよく) hay gọi tắt là ネットウヨ ネトウヨ (netouyo)

"Netto" (hay neto) là Internet, uyoku (hay gọi tắt uyo) là cánh hữu. Đây là những người hoạt động chỉ trên Internet, theo cánh hữu bài ngoại. Nên nhớ là cánh hữu cầm quyền ở Nhật Bản, đồng thời cũng là tư bản, tài phiệt và thao túng được truyền thông.

Tức là, nói thẳng ra, "trẻ trâu" chỉ là những người bị chăn dắt và không có tiếng nói trong xã hội thực, nên chỉ có thể lên mạng thể hiện "chính kiến", thường là những tư tưởng, kiến thức bị nhồi sọ và sùng bái lãnh đạo và tư bản.

Tức là họ không có cuộc sống tốt mà luôn luôn phải "cống hiến" cho tư bản, nên chỉ có thời gian lên mạng tranh cãi, phỉ báng lẫn nhau.

Như vậy, rõ ràng trẻ trâu là người sống ở thành phố, nhà không có điều kiện, trải nghiệm ít, chứ không phải là "trẻ chăn trâu ở nông thôn" như nghĩa gốc mà từ này nhắm tới.

"Trẻ trâu", những đối tượng mà từ này ám chỉ, hay bản thân từ này, chính là sản phẩm của xã hội tư bản công nghiệp, nơi con người làm việc như nô lệ hay máy móc trong các công xưởng, nhà máy, không có tiếng nói, không có thời gian để sống cuộc sống tự do mà bản thân mong muốn.

Nói cách khác, "trẻ trâu" hiểu là "nạn nhân của xã hội tư bản hoang dã" hay đúng ra gọi là xã hội nửa XXX (mị dân) nửa tư bản.
Takahashi

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2020

"Láu cá" có gốc hán việt không?

Láu cá:
- Thông minh lanh lợi và hay bày trò lừa người khác
- láu và có nhiều mẹo vặt
Ví dụ: giở trò láu cá, thằng bé rất láu cá
Đồng nghĩa: láu tôm láu cá

"Láu cá" không phải từ gốc hán việt.

Đang khi bị đọc chệch thành "láo cá" nhưng cách đọc này không đúng (thường là ở miền nam do viết sai theo cách phát âm của "láu" và "láo" gần giống nhau).

"Láu tôm láu cá" là cách nói nhấn mạnh hay văn vẻ của "láu cá", kiểu như "lý do lý trấu" (đúng ra phải là "lý gio lý trấu"), chứ không thật sự có nghĩa "tôm cá" gì ở đây.

Chữ "láu" thì là láu lỉnh, còn "cá" thì là gì? Có phải là cá trong tôm cá không?

Tôi nghĩ là không phải là "tôm cá" mà là trong "cá cược", "cá độ". Tức là thông minh lanh lợi và hay bày trò đưa người khác vào một trò cá cược nào đó mà mình chắc chắn thắng nhưng tỏ ra không biết, để người khác tưởng là 50/50.

Ví dụ: Hãy coi chừng nếu nó đố bạn ăn tiền vì nó rất láu cá.

Vì thường thì nó chắc chắn sẽ thắng, nhưng tỏ ra như là 50/50 để dụ bạn. Thậm chí nó còn làm bạn cảm thấy phần thắng của mình lớn hơn để bạn tích cực tham gia. Như thế mới gọi là láu cá
Takahashi

"Tháu cáy" có gốc hán việt không?

Tháu cáy: Dùng thủ đoạn ma mãnh để gian lận hoặc trục lợi
Ví dụ: Tay chơi bài tháu cáy
Gốc hán việt của "tháu cáy": 偸鶏 (thâu kê, tức là trộm gà)

Nguồn gốc và cách đọc của "tháu cáy"

"Tháu cáy" là 偸鶏 (thâu kê, tức là trộm gà) và là cách đọc của người Quảng Đông (gọi tắt là người Quảng) của từ này.

偸鶏 = tau1 gai1 (Cantonese)

Vì sao lại là "trộm gà"?

Vì ngày xưa gà là tài sản giá trị, giống như là xe cộ ngày nay vậy. Hoặc giống như cún cảnh mà người ta nuôi. Vì thế, bọn trộm xe hay trộm chó luôn bị khinh ghét và đề phòng. Để trộm được gà thì phải ma mãnh. Sau này từ này trở thành tính từ chỉ sự "tháu cáy".

Hiện nay có một số cách giải thích bị sai rằng "tháu cáy" là 趕鶏 (giản thể: 赶鸡), "cản kê" tức là "đuổi gà". Trước hết thì "đuổi gà" không xấu hay không xấu đến thế, cùng lắm chỉ là trêu trọc gà mà thôi. Ngay cả chủ gà cũng có thể phải đuổi gà kia mà?

Hơn nữa, 趕鶏 không đọc được thành "tháu cáy":

趕鶏 = gon2 gai1 (Cantonese)

Do đó, "tháu cáy" không thể là "đuổi gà" được, mà phải là "trộm gà".

Trong từ điển chữ Tôm, do là cách đọc ngoại lai, "tháu cáy" được phiên thành 偸°鶏°. Chữ này thể hiện nguồn gốc chữ hán của "tháu cáy và các từ gốc tiếng Quảng khác như "sủi cảo", "sủi dìn", "há cảo", "màn thầu", "vằn thắn" vv cũng như thế.

Thật đúng là:
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh
言'郷'拱'拾'久‟長'、
買'楽'也'得'壱'幾'鼓'更
Takahashi

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2020

Ra mắt từ điển chữ Tôm

Chữ Tôm là gì?

Từ điển chữ Tôm tức là từ điển chữ Nôm mới, chỉ dùng các chữ Hán đã có sẵn để ký âm tiếng Việt, nói cách khác, là chuyển mọi âm tiết tiếng Nhật sang chữ tượng hình. Nói nhiều thì dài dòng căn tự, nên đây là ví dụ minh họa:

Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
光‟彩‟底'水'印'天'、
城建'煙'碧'岳'晒'影'黄'

Từ điển dịch hai câu trong Truyện Kiều sang chữ kanji (hán tự) như trên, với ý nghĩa tương đương. Trong câu trên thì có "long lanh" là một từ láy, trong từ điển chữ Tôm, thì từ láy thường được viết theo dạng 〇‟〇‟ tức là dấu nháy kép ngược, và những chữ viết kiểu này thường tùy theo ngữ cảnh, cụm từ mà nó tạo ra mà thay đổi cách đọc, ví dụ:
dở ẹc 拙'極‟, lạ hoắc 異'極‟

Tất nhiên là để làm được như trên tức là dịch một cách tự động thì phải có CƠ SỞ DỮ LIỆU, tôi đã xây dựng cơ sở dữ liệu này. Ví dụ "bóng vàng" phải là bóng màu vàng, chứ không phải bóng của kim loại vàng. Nhưng nếu mà "nghìn vàng" thì lại phải là kim loại vàng, tức là 金':

Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
心'此'送'風'東有'便、
千'金'請'送'到'岳'燕`

Từ điển cũng có thể dịch các bài thơ gốc Hán sang tiếng Hán tương ứng:

Cao nguyên thủy xuất sơn hà cải,
Chiến địa phong lai thảo mộc tinh
高原水出山河改、
戦地風来草木腥

Tức là: Nước chảy ra từ cao nguyên làm thay đổi núi sông, Gió từ chiến địa thổi tới làm cây cỏ bốc mùi tanh

Trong trường hợp này, chữ "mộc tinh" dễ bị phiên thành 木星 tức là Sao Mộc theo thuật toán. Vậy phải làm sao? Khi chọn chữ "tinh" (trường hợp này là 腥 tức là tanh), nếu chỉ xét chữ ngay cạnh là "mộc" thì sẽ chọn sai, nên phải xét cả chữ trước đó, do đó, phải viết thành thuật toán để làm điều này, để tăng tính chuyển đúng cho từ điển chữ Tôm.

Dưới đây là một số đoạn thơ viết bằng chữ Tôm, tức là chữ Nôm mới.

Viết lại Truyện Kiều bằng chữ Nôm mới tự động bằng từ điển chữ Tôm

Nguồn gốc chữ "tài xế" trong tiếng Việt

Chữ "tài xế" có nguồn gốc Hán Việt không?

Gốc Hán Việt của "tài xế" là 大車 [đại xa]. "Tài xế" là cách đọc theo tiếng Quảng Đông (vùng Lưỡng Quảng, Trung Quốc) của "đại xa" do người gốc Hoa mang vào Việt Nam (đặc biệt là miền nam). Trong bài này, tôi sẽ nói về nguồn gốc của chữ "tài xế", vì sao 大車 [đại xa] lại là "tài xế".

Về chữ "xế" thì đây là cách đọc tiếng Quảng của chữ 車 XA.
大車
Cantonese (Jyutping): daai6 ce1
1. cart; big car
2. respectful term for an engine drive or the chief engineer of a ship
3. (Mainland China Hokkien) automobile; motor car; sedan

Chỗ này thì không ai thắc mắc cả. Ví dụ "xế hộp" nghĩa là "xe hơi" (xe ô tô).

Về chữ "tài" thì có ý kiến cho rằng, đó là chữ ĐÀ (舵), tức là "cầm lái" vì:
1. Tài xế nghĩa là người lái xe, nên có lẽ "tài" là "lái"
2. 舵手 [đà thủ] nghĩa là người cầm lái tàu thuyền, ví dụ 偉大舵手 [vĩ đại đà thủ] nghĩa là người cầm lái vĩ đại.
舵工 [đà công] nghĩa là người lái thuyền, thợ lái thuyền.

Vì thế, lái xe sẽ là ĐÀ XA? Điều này không hợp lý, vì ĐÀ là bánh lái tàu thuyền, không dùng cho xe cộ. Trong tiếng Trung, lái xe là 司機 TƯ CƠ.

Hơn nữa, ĐÀ đọc là  to4 trong tiếng Quảng, không phải "tài".

ĐÀ XA là suy luận sai lầm, còn ĐẠI XA 大車 mới đúng là "tài xế".

大車 ĐẠI XA nghĩa là gì?

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2020

"Trịch thượng" hay "trịnh thượng"

Đúng: trịch thượng
Sai: trịnh thượng

Thái độ trịch thượng là thái độ "kẻ cả bề trên", theo từ điển tiếng Việt miễn phí thì là "Tự cho mình là hơn mà ăn nói, xử sự có vẻ bề trên và bất nhã." ví dụ:
Giọng trịch thượng.
Nhìn với con mắt trịch thượng.

"Trịch thượng" có phải là từ gốc hán không?

Thượng (上) là từ gốc hán nhưng Trịch thì có vẻ là không. "Trịch" ở đây là trong nghĩa "cầm trịch" (điều khiển, chỉ dẫn để công việc tiến hành đúng và nhịp nhàng, ví dụ: đứng ra cầm trịch). Vì thế, là người quan trọng bậc nhất.

Ở đây là tỏ ra ta đây là người quan trọng hơn, là bề trên, thì gọi là "trịch thượng".

Chữ hán cũng có chữ Trịch là 擲, nghĩa là ném xuống, gieo xuống, 擲下 (trịch hạ) nghĩa là ném cho, quăng cho, quẳng cho, tức là cho ai cái gì.

Chữ này là gieo súc sắc, hay kiểu như "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao" (Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao), ném tiền vào bàn cá cược vv.

Đôi khi thì chữ 擲上 cũng xuất hiện nhưng nghĩa là ném cái gì, quăng cái gì lên đâu đó.

Còn "Trịnh Thượng" (鄭上) thì là có thể tên người, họ Trịnh, tên Thượng.

Dịch "thái độ trịch thượng" sang tiếng Nhật?

Cách dịch "nguyên quán" sang tiếng Nhật

"Nguyên quán" (chữ Tôm: 元館) là gì? Đó không phải là "quê quán" (là nơi sinh trưởng của cha, hoặc của mẹ nếu không có cha), tức là 故郷 (furusato).

Quê quán = nơi sinh trưởng của cha hoặc của mẹ nếu không có cha

"Nguyên quán" là quê quán gốc của ông bà tổ tiên, theo pháp luật hiện tại thì nguyên quán của bạn ghi theo nguyên quán của cha bạn (hoặc mẹ nếu không có cha), cha bạn lại ghi theo nguyên quán của ông nội, cứ thế .... Tức là ghi lại nguyên quán của tổ tiên xa nhất còn biết được.

Vì thế nó không phải là 出生地 (xuất sinh địa, shusseichi), tức là "nơi sinh".
Nó cũng không phải là 出身地 (xuất thân địa, shusshinchi), tức là "nơi xuất thân" hay nơi sinh trưởng.

Nơi sinh trưởng tức là nơi mà bạn dành phần lớn thời gian thời thơ ấu để phát triển hình hài, nhân cách, thường là nơi sinh ra và lớn lên. Nhưng cũng có khi không phải là nơi sinh ra mà chỉ là nơi lớn lên và trưởng thành (trường hợp sinh xong còn nhỏ đã chuyển chỗ).

Ví dụ, bạn có thể sinh ra và lớn lên ở Long An, cha bạn cũng vậy, sinh ra và lớn lên ở Long An, ông nội có thể sinh ra lớn lên ở Đồng Tháp, nhưng nếu cụ tổ (bên nội) là người có nguyên quán ở Huế (ví dụ nhiều đời trước đó sinh sống ở Huế và ghi nguyên quán ở Huế), thì nguyên quán của bạn vẫn là Huế, dù bạn không sinh ra và lớn lên ở đó, thậm chí, có thể còn chưa bao giờ đặt chân tới Huế.

Cách sử dụng "nguyên quán" như vậy có hợp lý không?

Vì nguyên quán rõ ràng ảnh hưởng rất ít tới nhân cách, tính cách, con người của bạn. Nơi sinh trưởng hay nơi sinh rõ ràng ảnh hưởng nhiều hơn. Ngoài ra, cụ tổ chỉ còn lại rất ít trong con người bạn, vì quá trình tha hương sau đó rõ ràng kết hợp rất nhiều yếu tố di truyền cũng như văn hóa của địa phương khác. Một người di cư từ Huế vào Long An, lấy người Long An, thì rõ ràng yếu tố văn hóa LA lớn hơn rất nhiều, vì con người có tính thích ứng. Thậm chí, một người Huế cũng có thể biến thành người Long An, do thích ứng, chẳng còn chất Huế mấy nữa.

Theo tôi thì nên ghi lai lịch theo "nơi sinh" thì hợp lý hơn.

Dịch "nguyên quán" sang tiếng Nhật như thế nào?

Như trên đã nói, nguyên quán phải dịch đúng nghĩa là quê quán gốc, tức là nguồn gốc tổ tiên từ đâu ra. Dưới đây là cách dịch "nguyên quán" sang tiếng Nhật và tiếng Anh cho đúng.

Tiếng Việt: nguyên quán
Tiếng Nhật: 起源地 (khởi nguyên địa, kigenchi)
Tiếng Anh: place of origin

Takahashi

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2020

"Trước tác" là gì?

Chữ hán của "trước tác": 著作

著作 đúng ra phải đọc là "trứ tác" (trứ trong chữ trứ danh 著名), nhưng chữ 著 cũng có cách đọc là "trước".

著作 có nghĩa là viết thành sách, hoặc sách do ai đó viết. Trong tiếng Nhật cũng sử dụng từ 著作, đọc là ちょさく.

Ví dụ: Trước tác Lenin (trứ tác Lenin) tức là sách do Lenin viết.

Trong tiếng Nhật có các từ liên quan như 著作権 = quyền sở hữu của tác giả viết sách vv.

Nếu bạn viết thành sách thì gọi là 著作する. Ví dụ 彼が著作した本 = quyển sách mà anh ấy viết ra.

Dịch "trước bạ" (thuế trước bạ) sang tiếng Nhật thế nào?

"Trước bạ" là gì?

"Trước bạ" chữ hán là 著簿 (viết theo chữ kanji có thể viết là 着), tức là ghi vào sổ đăng ký. Trước (著) là đến, tới, ghi vào, Bạ 簿 là sổ đăng ký.

"Trước bạ" thường xuất hiện trong thuế trước bạ, phí trước bạ, hay lệ phí trước bạ, tức là tiền lệ phí để được ghi vào sổ đăng ký của nhà nước, ví dụ nhà cửa, đất đai, xe cộ vv.

Ngoài ra còn có "sổ trước bạ", mặc dù "bạ" cũng là "sổ" nhưng trong trường hợp này thì "trước bạ" đóng vai trò là tính từ, tức là việc ghi vào sổ đăng ký của nhà nước, nên đây là sổ để ghi vào việc đăng ký.

Dịch "phí trước bạ" sang tiếng Nhật:
Tiếng Việt: thuế trước bạ, phí trước bạ, lệ phí trước bạ
Tiếng Nhật: 登録料 hay 登記料
Tiếng Anh: registration fee

Nếu muốn nói rõ hơn thì có thể dùng 国に対する登録料 (phí đăng ký với nhà nước) vì 登録料 thì có nghĩa là "phí đăng ký".

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2020

Bảng chữ cái và cách phiên âm chữ tôm

Một trong những lý do khiến chữ nôm khó học là chữ nôm BẮT BUỘC PHẢI THỂ HIỆN CÁCH ĐỌC, ví dụ:

𤾓𢆥𥪞揆𠊛些
Trăm năm trong cõi người ta.
(Chữ nôm)

Chữ "trăm" là ghép của bách 百 và lâm 林, chữ "năm" là nam 南 và niên 年. Như thế thì chữ trở nên rất phức tạp và phải ghép bao nhiêu vạn chữ đây?

Còn chữ tôm thì chỉ dùng để CHỈ Ý, không thể hiện cách đọc, nên sẽ đơn giản hơn. Tuy nhiên, nếu không có cách đọc thì sao biết chữ đọc là gì? Nhất là thời xưa khi chưa có chữ quốc ngữ do Alexandre de Rhodes (A Lếch San Đơ Rốt) phổ biến vào, thì không có hệ chữ latin để phiên âm, thì các tiên nhân ở nước nam phải làm sao?

Tôi xin giới thiệu cách ký âm (ghi âm đọc) cho chữ tôm như dưới đây.

Ví dụ chúng ta quy định rằng phụ âm đầu L sẽ sử dụng Lúa 稲' thì chúng ta có thể phiên cách đọc cho chữ Lương 糧 là Lúa 稲' + Tương 相 chẳng hạn.

Như vậy chữ LƯƠNG được ghi cách đọc bằng HAI CHỮ TƯỢNG HÌNH là 稲'相.

Để chỉ rõ đây chỉ là phiên âm, chúng ta dùng dấu phẩy dưới (còn dấu phẩy ngắt câu thì là 、 giống tiếng Nhật): 稲',相,.

Tất nhiên là trong sách ghi rõ là phiên âm thì không cần phiền phức ghi thêm dấu phẩy dưới như thế.

Đây là bảng chữ cái phụ âm đầu của chữ tôm:


Danh sách cụ thể bảng chữ cái tôm:
  • [Không có phụ âm đầu như AN, YÊN vv/không vần] 〇 = Phụ âm không
  • 牛' = Phụ âm BA
  • 魚' = Phụ âm CA
  • CHÓ 犬' = Phụ âm CHA
  • 羊' = Phụ âm DA
  • ĐÁ 石' = Phụ âm ĐA
  • GẠO 米' = Phụ âm GA
  • GIÁP 甲 = Phụ âm GIA
  • HOA 花 = Phụ âm HA
  • KHUYỂN 犬 = Phụ âm KHA
  • LÚA 稲' = Phụ âm LA
  • MÈO 猫' = Phụ âm MA
  • NÚI 山' = Phụ âm NA
  • NHẬT 日 = Phụ âm NHA
  • NGUYỆT 月 = Phụ âm MHA
  • PIN 電' = Phụ âm PA
  • PHÁO 砲 = Phụ âm PHA
  • QUY 亀 = Phụ âm QUA
  • RÙA 亀' = Phụ âm RA
  • SƠN 山 = Phụ âm SA
  • TÂM 心 = Phụ âm TA
  • THỎ 兎' = Phụ âm THA
  • TRĂNG 月' = Phụ âm TRA
  • VOI 象' = Phụ âm VA
  • XA 車 = Phụ âm XA

Trong chữ tôm thì không có phụ âm L, hay phụ âm X mà chỉ có phụ âm LÚA và phụ âm XA mà thôi, vì L hay X là của người tây, không phải của ta.

Ví dụ chữ SĂM SOI thì phiên thế nào?

SĂM = SƠN + NĂM (vần) = 山年'
SOI = SƠN + VOI = 山象'

Trường hợp không có phụ âm hay vần: 〇

Ví dụ chữ VỘI VÀNG:
Vội = Voi + Hội = 象'会

Vàng thì có thể dùng trực tiếp chữ 金' (vàng), nhưng phiên âm bắt buộc phải có hai ký tự, nên trường hợp này không cần vần nữa, nên dùng dấu tròn:

Vàng = 金'〇

Tương tự, vần ỘI thì có thể dùng vần HỘI, nhưng không phụ âm đầu:

Ội = 〇会

Ối giời ơi = 〇背 甲天' 〇泳'

Ví dụ phiên âm TRĂM và NĂM

Phụ âm có rồi thì chúng ta cần thêm VẦN, cụ thể là vần ĂM, nhưng cũng như phụ âm, vần ĂM là sản phẩm của người tây, chúng ta chỉ có vần TRĂM, hay vần NĂM mà thôi, và đây là một vần.

TRĂM 百' = TRĂNG + NĂM = 月'年'
NĂM 年' = NÚI + TRĂM = 山'百'

Bạn có thể thấy là các chữ này HỖ TRỢ PHIÊN ÂM cho nhau, vì thế cơ bản là chữ tôm không quy định vần, mà là tùy nghi áp dụng. Dùng chữ đã biết để phiên âm cho chữ không biết. Khi nào hệ thống vần ổn định rồi thì mới quy định cụ thể sau.

Phiên âm tiếng nước ngoài

John thì nói thế nào? Trong chữ quốc ngữ chúng ta viết luôn là John, chẳng qua là vì bàn phím gõ ra được. Chứ không phải là chúng ta tôn trọng tiếng Anh mà viết là John. John chẳng qua là Giôn mà thôi, khi nói ra thì John hay Giôn là một.

Nhưng nếu phải viết chữ Himalaya gốc thì sao? Vì Himalaya đã là phiên âm rồi, chứ nó là tiếng Phạn हिमालय, chẳng ai viết thế này, vì có viết và đọc được đâu.

Vì thế, Himalaya và Hi Ma La Y A thực ra chỉ là một.

Phiên âm thế này:
Himalaya = Hi Ma La Y A = 希〇 麻〇 羅〇 〇伊 〇唖

Không có phụ âm, hay không có vần thì sử dụng 〇 để thay thế vào.

John, tức Giôn thì không có âm hán, nên chúng ta phải ghép âm theo quy tắc, ví dụ:

John = Giôn = Giáp + Ôn = 甲温

Hoặc: John = Giôn = Gia + Ôn = 加温

Phiên âm từ ngữ có tính chất tôn kính

Ví dụ từ CHÚA đi, chữ của nó là 主`, dấu ` biểu thị cách đọc hán việt thứ hai, hoặc thông dụng, nếu phiên âm chữ này thì sẽ thành 犬'舞' (Chó + Múa), rõ ràng không nên.

Vì thế, trường hợp từ ngữ có tính tôn kính thì chúng ta sử dụng phụ âm đầu mở rộng bất kỳ, ví dụ trường hợp này dùng ngay chữ 主 CHỦ vì đây là chữ thông dụng:

Chúa 主` = Chủ + Lúa = 主'稲'

Như vậy về ý nghĩa là người chủ ban cho lúa, cũng khá dễ hiểu và hợp lý.

Hay chữ Phật 仏 mà phiên âm là Pháo Mật (砲密) tức là pháo bí mật thì nghe không đúng tính chất cứu nhân độ thế của phật lắm, nên phiên thế này:

Phật 仏 = Phái + Mật = 派蜜

Tức là phái cử mật ngọt tới cho chúng sinh, thì sẽ dễ nghe hơn nhiều.

Bài tập phiên âm chữ tôm

Bài tập 1: Hãy phiên âm A Lếch San Đơ Rốt bằng chữ tôm.

Bài tập 2: Ghi cách đọc (phiên âm) chữ tôm của "thướt tha", "xuề xòa", "mượt mà".

Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2020

Một khái niệm về CHỮ TÔM

Hôm nay tôi xin giới thiệu về một cách ghi tiếng Việt mới, sử dụng CHỮ TÔM. Tôi cũng đã dịch trích đoạn Truyện Kiều bằng chữ Nôm mới (訳摘段伝`翹平'字'南'新') để cho có khái niệm.

Kiểu ghi chữ này gọi là chữ Nôm mới (字'南'新') hay là tân Nôm tự (新南'字). Áp dụng quy tắc viết tắt thì sẽ thành:

Nôm mới = Nới (寛')
tân Nôm = Tôm (蝦')

Do đó, chữ Nôm mới còn gọi là chữ Nới (字'寛') hay là chữ Tôm (字'蝦'). Đây là khái niệm ban đầu về Chữ Tôm (từ nay viết là chữ tôm không viết hoa).

Công việc "ngu công dời núi" (愚公移'山') là sẽ chuyển tất cả các chữ tiếng Việt sang chữ Hán ví dụ:

Tôi yêu mến ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản
我'愛'慕'言語和'文化日本

Như thế, khi người ngoài nhìn vào họ sẽ hiểu được đại khái ý nghĩa của câu nói này, cũng như chúng ta nhìn vào tiếng Hàn vậy.

Đây là một ví dụ trên Wia (tắt của Wikipedia):
悠久한 歷史와 傳統에 빛나는 우리 大韓國民은 3•1 運動으로 建立된 大韓民國臨時政府의 法統과 不義에 抗拒한 4•19 民主理念을 繼承하고, 祖國의 民主改革과 平和的統一의 使命에 立脚하여 正義•人道와 同胞愛로써 民族의 團結을 鞏固히 하고, 모든 社會的弊習과 不義를 打破하며, 自律과 調和를 바탕으로 自由民主的基本秩序를 더욱 確固히 하여 政治•經濟•社會•文化의 모든 領域에 있어서 各人의 機會를 均等히 하고, 能力을 最高度로 發揮하게 하며, 自由와 權利에 따르는 責任과 義務를 完遂하게 하여, 안으로는 國民生活의 均等한 向上을 期하고 밖으로는 恒久的인 世界平和와 人類共榮에 이바지함으로써 우리들과 우리들의 子孫의 安全과 自由와 幸福을 永遠히 確保할 것을 다짐하면서 1948年 7月 12日에 制定되고 8次에 걸쳐 改正된 憲法을 이제 國會의 議決을 거쳐 國民投票에 依하여 改正한다.

Nếu bạn biết chữ hán, bạn còn chẳng cần học tiếng Hàn để đọc được đoạn này! Đây là đoạn mở đầu của "háp Huốc" (hiến pháp Hàn Quốc).

Về tên gọi "chữ tôm"

Gọi là chữ Nới hay chữ Tôm là hợp lý, vì đây không phải là một dạng chữ hoàn toàn mới, mà phát triển và kế thừa từ chữ Nôm (cũ) và chữ quốc ngữ (tây học) ra, tức là NỚI thêm ra. Ngoài ra, chữ này là "chữ Tôm" vì nó mới ra đời, so với hai loại chữ có hàng trăm năm lịch sử kia, thì mới chỉ là "tuổi tôm" mà thôi. Nhưng tôi tin rằng chữ này sẽ phát triển rực rỡ trong 10 năm tới.

Gọi là chữ tôm thay vì là chữ nôm mới, bởi lẽ chữ này tuy có cùng ý tưởng là hán tự hóa tiếng Việt như chữ nôm cũ (tức là chữ nôm mà bạn biết tới ngày nay), nhưng sử dụng một phương pháp hoàn toàn khác, nên nếu nói là "chữ nôm mới" thì sẽ gây hiểu nhầm về phương pháp, tạo ấn tượng sai lầm là chữ này khó học hay khó phổ biến.

Về từ láy và chữ tượng thanh

Ví dụ:
Tượng thanh: Gõ lộp bộp, đầm thùm thụp, vỗ phành phạch
Từ láy: Trăng trắng, đen đúa, chợ búa, thuế má

Đây là một vấn đề mà chữ tôm sẽ phải đối mặt và giành thắng lợi, thì mới có thể tiến xa được.

Trong các từ láy trên thì "trăng", "đúa", "búa", "má" chỉ là luyến láy thêm, để nhấn mạnh hay văn vẻ, mà không mang ý nghĩa (đúa) hay ý nghĩa không liên quan (trăng không phải là Moon, búa không phải là HAMMER, má không phải là CHEEK).

Do đó, trường hợp nay tôi đề nghị sử dụng khái niệm CHỮ LÁY SAU 〱 như sau:

trăng trắng = 〃白' (láy gần y nguyên)
đen đúa = 黒'〱
chợ búa = 市'〱
thuế má = 税'〱

Từ tượng thành "lộp bộp" thì sẽ không có âm hán tương ứng, nên lấy chữ gần đúng là "bộc" 僕 và luyến láy đi một chút, sử dụng dấu tròn như sau:

lộp bộp = 〃僕° (dùng chữ BỘC để luyến)
thùm thụp = 〃蜀° (dùng chữ THỤC để luyến)
phành phạch = 〃白° (dùng chữ BẠCH để luyến)

Trường hợp này không lo nhầm 〃白° là "bành bạch" bởi lẽ, dấu tròn trong 白° có nghĩa là LUYẾN LÁY đi một chút rồi.

Nếu nói là "bành bạch" thì chỉ cần nói là 〃白 mà thôi (^o^).

Ví dụ:

Đêm nay trăng sáng vằng vặc, làm tôi nhớ về quê hương bản quán.
夜'今'娥'光'〃域°、働'我'恋'帰'邦'郷本館。

有'易'暁不'尔°?
-Takahashi-

Một lối viết tắt tiếng Việt (tốc ký)

Chúng ta có thể viết tắt như sau:

ngân hàng = ngàng (hay nghiêm ngặt thì là ng'àng)
Hà Nội = Hội / H'ội
=> chuyến bay đi Hà Nội sắp bắt đầu khởi hành = chay đi Hội sắp bầu khành
Đà Nẵng = Đẵng / Đ'ẵng
đông như quân Nguyên (xem kanji) = đuyên / đ'uyên

cổ phiếu = c'iếu hay kiếu
đầu tư = đư
chứng khoán = choán
công nghệ thông tin = cệ thin

Cách ứng dụng là bạn có thể tốc ký để đỡ tốn công ghi chép nhiều. Ví dụ "giám đốc" có thể ghi là "j'ốc". Nếu đã quy định sẵn thì sau này có thể cứ thế viết và đọc rất nhanh, nhất là các bạn làm nghề dịch nói cần ghi chép nhanh.

Giám đốc công ty = jốc cy

Ví dụ bạn cần ghi chú công việc:

Hẹn gặp giám đốc công ty đối tác chiều thứ hai bàn công việc
=> Hặp giốc cy đác chiều thai bàn ciệc
(H'ặp gi'ốc c'y đ'ác chiều th'ai bàn c'iệc)

Vắt (viết tắt) kày (kiểu này) thì cể (có thể) còn bật (bảo mật) nữa kia.

"Suồng sã", "thành thật", "tinh tươm" thì viết tắt thế nào?

Không thể viết như trên được, mà có thể thêm dấu nháy trước, ví dụ:

suồng sã = ssã hay 'sã (hay s'ã)
thành thật = tthật hay 'thật (thay th'ật)
tinh tươm = ttươm hay 'tươm (hay t'ươm)
chân chất = cchất hay 'chất  (hay ch'ất)

Viết tắt cả tiếng nước ngoài và địa danh