"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Chủ Nhật, ngày 17 tháng 8 năm 2014

"Người thích tôi" và "người tôi thích" trong tiếng Nhật

Câu chuyện cuối tuần: Mỗi tuần là một câu chuyện ... nhạt thếch!

Nói "người thích tôi" và "người tôi thích" trong tiếng Nhật hóa ra lại không hề dễ dàng. Thích cái gì thì sẽ dùng 好き suki (HIẾU / HẢO), đây là tính từ "na" nên đi với danh từ thì sẽ là 好きな suki-na.

Mẫu câu khi nói tôi, hay ai thích gì đó là:

Chủ ngữ は đối tượng が好きです。
S wa O ga suki desu

Nếu trở nên thích ai đó hay cái gì đó thì:

Chủ ngữ は đối tượng が好きになりました。
S wa O ga sukini narimashita

Vì là tính từ "na" nên nó có thể bổ nghĩa cho danh từ:

好きな絵本 sukina ehon = quyển truyện tranh (tôi) yêu thích (ehon HỘI BẢN = truyện tranh)

Ở mẫu ngữ pháp trên thì bạn có thể thấy chúng ta kết hợp は và が để diễn đạt sự yêu thích. Cái này thì ổn rồi. Nhưng bây giờ nói "người tôi thích" và "người thích tôi" thế nào. Chú ý đây là danh từ (noun) và sẽ có bổ nghĩa để làm rõ đối tượng. Danh từ là "người" (人 hito) và bổ nghĩa là "tôi thích", "thích tôi".

Do đó sẽ có dạng: [Phrase]人 trong đó [Phrase] là vế câu bổ nghĩa. Và chú ý là, trong vế câu bổ nghĩa sẽ KHÔNG sử dụng trợ từ は mà sử dụng が (ví nếu dùng は thì không biết trước は là chủ ngữ toàn bộ câu hay là trong vế câu đó thôi).

Vậy thì 私が好きな人 watashi ga sukina hito sẽ là:
(1) "Người tôi thích", hay là:
(2) "Người thích tôi".

Đó chính là vấn đề. Chúng ta biết theo mẫu ngữ pháp trên thì Aが好き có nghĩa là (tôi) thích A. Ví dụ:
彼は直子さんが好きです。
Kare wa Naoko san ga suki desu = Anh ấy thích chị Naoko.

Nhưng trong ví dụ 私が好きな人 thì nhỡ đâu 私 (watashi) là chủ thể của hành động "thích" (好き suki) còn が là trợ từ thay thế cho trợ từ は trong vế câu bổ nghĩa thì sao? Vì thế mà câu này trở nên không rõ ràng. Và đó là nội dung câu chuyện tuần này.


"Người tôi yêu" và "người yêu tôi"

Nếu là YÊU thì mọi chuyện sẽ dễ hơn. Chúng ta biết có hai từ "yêu" sau:
(1) 恋する koi suru (Luyến): Dùng cho tình yêu nam nữ (or đôi nam, đôi nữ) tức liên quan tới giới tính
(2) 愛する ai suru (Ái): Yêu nói chung, gồm cả nam nữ (có thể là yêu gia đình, nhân loại, ...)

Ví dụ  愛する ai suru là V (verb = động từ) nên sẽ dùng trợ từ を wo:

Chủ ngữ は đối tượng を愛する
S wa O wo ai suru

Đây là thì tương lai, tức là "sẽ yêu" nên chúng ta phải dùng thì hiện tại tiếp diễn:

Chủ ngữ は đối tượng を愛している
S wa O wo ai shite iru

(Lịch sự: 愛しています ai shite imasu)

Thế thì mọi việc trở nên đơn giản hơn nhiều vì ở đây dùng trợ từ を wo chứ không dùng が ga:

Người tôi yêu = 私が愛している人 watashi GA ai shite iru hito
Người yêu tôi = 私を愛している人 watashi WO ai shite iru hito

Thế còn "người tôi thích" và "người thích tôi" thì sẽ nói thế nào? Người Nhật dùng 好き suki để tỏ tình còn nhiều hơn cả 愛している ai shite iru nữa kia mà. Hẹn bạn ... tuần sau!

Takahashi

2 nhận xét:

  1. có chữ yêu thôi mà cũng rắc rối quá bạn nhi?

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Học những cái này hiểu tiếng Nhật tốt hơn mà ^^

      Xóa