Bài trước các bạn cũng biết qua về cách xưng hô trong gia đình Nhật Bản ở bài Xưng hô như người Tô-ki-ô. Thế nói ông bà nội, ông bà ngoại thì thế nào?
Ông, bà nội: Dùng 父方 chichi-kata (Phụ Phương), tức "bên cha"
Ông, bà ngoại: Dùng 母方 haha-kata (Mẫu Phương), tức là "bên mẹ"
Ông nội: 父方のお爺さん chichi-kata no ojiisan
Bà nội: 父方のお婆さん chichi-kata no obaasan
Ông ngoại: 母方のお爺さん haha-kata no ojiisan
Bà ngoại: 母方のお婆さん haha-kata no obaasan
Chú ý là ojiisan và obaasan không chỉ chỉ ông, bà mình mà chỉ ông lão, bà lão ngoài đường nữa. (Tham khảo bài Xưng hô như người Tô-ki-ô)
"Cụ" thì dùng chữ 祖父 Sofu (Tổ Phụ) và 祖母 Sobo (Tổ Mẫu). Bạn hãy tham khảo bài viết về quan hệ họ hàng trên Wikipedia: 続柄 và おばあさん.
Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013
Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013
Ani, onii-san hay aniki: Xưng hô như người Tô-ki-ô
Có bạn hỏi mình qua facebook là "anh" thì gọi là ani, onii-san hay aniki.
Tôi đã trả lời trên facebook và nội dung như dưới đây.
"Anh trai" thì là "ani" nhưng khi gọi anh mình thì gọi là "oniisan", chú ý ani có 1 i thôi còn oniisan là ni và i nhé. Khi nói với người khác mà nói anh tôi thì nói là "watashi no ani". Bạn xem bên dưới cách viết kanji, hiragana.
Nhưng nếu gặp một anh không phải họ hàng mà lớn tuổi hơn thì cũng gọi là oniisan được.
Gọi mẹ cũng vậy, gọi mẹ mình là okaasan, khi gặp người khác có con thì cũng gọi là okaasan được, tức là "chị, cô", thường gọi khi người đó đi cùng con của mình. Các cách gọi kiểu này là cách gọi lịch sự nhưng thân thiết, không suồng sã mà lại tạo cảm giác như là thân quen.
Còn người Kansai (Osaka, Kyoto, ...) thì thay vì gọi oniisan thì gọi là aniki. Còn nói về các bà chị thì là aneki. (Chắc các bạn cũng biết phim Kiken-na Aneki do Itou Misaki đóng chứ nhỉ)
Có thể dịch aniki, aneki ra là "ông anh", "bà chị" đó.
Tóm lại: Gọi anh mình là oniisan, niisan (thân thiết hơn), niichan (thân thiết)
Chị mình: oneesan, neesan, neechan
Gọi ba mình: Otousan, tousan, touchan
Gọi mẹ mình: Okaasan, kaasan, kaachan
Gọi ông, bà mình: Ojiisan, jiisan, jiichan / Obaasan, baasan, baachan
Anh lớn tuổi hơn: Oniisan (thân thiết), anata (xa cách)
Chị lớn tuổi hơn: Oneesan (thân), anata (xa cách)
Gọi anh mình, chị mình với người khác: Watashi no ani, watashi no ane
Gọi mẹ, ba mình với người khác: Haha, chichi (watashi no haha, watashi no chichi thì cũng được nhưng thừa thãi)
Gọi ba mẹ người khác: Tajima-san no otousan, Tajima-san no okaasan
Nói cha, mẹ trong văn bản chính thức hay văn kể:
Cha: 父親 Chichioya (Phụ Thân)
Mẹ: 母親 Hahaoya (Mẫu Thân)
Cha mẹ: 両親 Ryoushin (Lưỡng Thân) / 親 Oya (Thân)
Oya cũng dùng khi nói chuyện: Watashi no oya = ba mẹ tôi
Watashi no ryoushin = ba mẹ tôi
両親 cũng có thể dùng trong giao tiếp và dạng lịch sự là ご両親 Go-Ryoushin, ví dụ ご両親はいかがですか "Go-Ryoushin wa ikaga desu ka?" nghĩa là "Hai bác nhà anh/chị có khỏe không?" (hỏi thăm cha mẹ người đối diện).
Anh: 兄(あに Ani, Kanji: Huynh)、お兄さん(おにいさん Oniisan)、兄貴(あにき Aniki)
Chị: 姉(あね Ane, Kanji: Tỷ)、お姉さん(おねえさん Oneesan)、姉貴(あねき Aneki)
Mẹ: 母(はは Haha, kanji: Mẫu)、お母さん(おかあさん Okaasan)、母ちゃん(かあちゃん Kaachan)
Cha: 父(ちち Chichi, kanji: Phụ)、お父さん(おとうさん Otousan)、父ちゃん(とうちゃん Touchan)
Bà: お婆さん(おばあさん Obaasan, kanji: Bà)
Ông: お爺さん(おじいさん Ojiisan, Kanji: Gia)
Tuy nhiên, đây là bộ gõ của mình thôi. Bộ giáo dục Nhật Bản (MEXT) đã thay đổi cách viết kanji, đó là khi nói Okaasan thì không viết お母さん nữa mà chỉ viết là 母さん mà thôi. (Xem tại đây)
Tôi đã trả lời trên facebook và nội dung như dưới đây.
"Anh trai" thì là "ani" nhưng khi gọi anh mình thì gọi là "oniisan", chú ý ani có 1 i thôi còn oniisan là ni và i nhé. Khi nói với người khác mà nói anh tôi thì nói là "watashi no ani". Bạn xem bên dưới cách viết kanji, hiragana.
Nhưng nếu gặp một anh không phải họ hàng mà lớn tuổi hơn thì cũng gọi là oniisan được.
Gọi mẹ cũng vậy, gọi mẹ mình là okaasan, khi gặp người khác có con thì cũng gọi là okaasan được, tức là "chị, cô", thường gọi khi người đó đi cùng con của mình. Các cách gọi kiểu này là cách gọi lịch sự nhưng thân thiết, không suồng sã mà lại tạo cảm giác như là thân quen.
Còn người Kansai (Osaka, Kyoto, ...) thì thay vì gọi oniisan thì gọi là aniki. Còn nói về các bà chị thì là aneki. (Chắc các bạn cũng biết phim Kiken-na Aneki do Itou Misaki đóng chứ nhỉ)
Có thể dịch aniki, aneki ra là "ông anh", "bà chị" đó.
Tóm lại: Gọi anh mình là oniisan, niisan (thân thiết hơn), niichan (thân thiết)
Chị mình: oneesan, neesan, neechan
Gọi ba mình: Otousan, tousan, touchan
Gọi mẹ mình: Okaasan, kaasan, kaachan
Gọi ông, bà mình: Ojiisan, jiisan, jiichan / Obaasan, baasan, baachan
Anh lớn tuổi hơn: Oniisan (thân thiết), anata (xa cách)
Chị lớn tuổi hơn: Oneesan (thân), anata (xa cách)
Gọi anh mình, chị mình với người khác: Watashi no ani, watashi no ane
Gọi mẹ, ba mình với người khác: Haha, chichi (watashi no haha, watashi no chichi thì cũng được nhưng thừa thãi)
Gọi ba mẹ người khác: Tajima-san no otousan, Tajima-san no okaasan
Nói cha, mẹ trong văn bản chính thức hay văn kể:
Cha: 父親 Chichioya (Phụ Thân)
Mẹ: 母親 Hahaoya (Mẫu Thân)
Cha mẹ: 両親 Ryoushin (Lưỡng Thân) / 親 Oya (Thân)
Oya cũng dùng khi nói chuyện: Watashi no oya = ba mẹ tôi
Watashi no ryoushin = ba mẹ tôi
両親 cũng có thể dùng trong giao tiếp và dạng lịch sự là ご両親 Go-Ryoushin, ví dụ ご両親はいかがですか "Go-Ryoushin wa ikaga desu ka?" nghĩa là "Hai bác nhà anh/chị có khỏe không?" (hỏi thăm cha mẹ người đối diện).
Cách viết kanji, hiragana
Ani thì là あに nhưng oniisan thì có thêm một "i" nữa nhé: おにいさんAnh: 兄(あに Ani, Kanji: Huynh)、お兄さん(おにいさん Oniisan)、兄貴(あにき Aniki)
Chị: 姉(あね Ane, Kanji: Tỷ)、お姉さん(おねえさん Oneesan)、姉貴(あねき Aneki)
Mẹ: 母(はは Haha, kanji: Mẫu)、お母さん(おかあさん Okaasan)、母ちゃん(かあちゃん Kaachan)
Cha: 父(ちち Chichi, kanji: Phụ)、お父さん(おとうさん Otousan)、父ちゃん(とうちゃん Touchan)
Bà: お婆さん(おばあさん Obaasan, kanji: Bà)
Ông: お爺さん(おじいさん Ojiisan, Kanji: Gia)
Tuy nhiên, đây là bộ gõ của mình thôi. Bộ giáo dục Nhật Bản (MEXT) đã thay đổi cách viết kanji, đó là khi nói Okaasan thì không viết お母さん nữa mà chỉ viết là 母さん mà thôi. (Xem tại đây)
Người Kansai và người Kantô (người Tô-ki-ô)
Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013
Kimi no sasai-na mondai wa nan dattakke?
Câu chuyện là thế này:
Mặt trời luôn mọc và núi Phú Sỹ luôn đẹp
太陽は毎度昇り富士山は毎度美しく
Taiyou wa maido nobori, Fuji-san wa maido utsukushiku
・・・
・・・
・・・
Vấn đề nhỏ bé của bạn là gì ý nhỉ?
君の些細な問題は何だったっけ。
Kimi no sasai-na mondai wa nan dattakke?
>> Trên Facebook SaromaLang
何だっけ nan dakke và 何だったっけ nan dattakke khác nhau như thế nào? Chỉ đơn thuần là hỏi về thứ trong hiện tại, đương nhiên hay thường xuyên diễn ra thì dùng "nan dakke" còn hỏi về một sự vật, sự việc quá khứ thì dùng "nan dattakke".
Bạn cũng có thể dùng dạng nói lịch sự: 何でしたっけ nan deshitakke? Mấu chốt chỉ là bạn thêm っけ ở cuối câu. Bạn có thể hỏi:
太陽は毎度昇り富士山は毎度美しく
Taiyou wa maido nobori, Fuji-san wa maido utsukushiku
Mặt trời luôn mọc và núi Phú Sỹ luôn đẹp
太陽は毎度昇り富士山は毎度美しく
Taiyou wa maido nobori, Fuji-san wa maido utsukushiku
・・・
・・・
・・・
Vấn đề nhỏ bé của bạn là gì ý nhỉ?
君の些細な問題は何だったっけ。
Kimi no sasai-na mondai wa nan dattakke?
>> Trên Facebook SaromaLang
"kke" trong だったっけ "dattakke" nghĩa là gì?
Chúng ta đều biết câu hỏi "nan datta?" nghĩa là "(đã) là cái gì?". Ở đây hỏi "Vấn đề nhỏ bé của bạn là cái gì?" nhưng mà lại thêm "kke" (có tsu nhỏ nên phải là âm lặp). "kke" là dùng trong câu hỏi về thứ bạn đã nghe nhưng lại quên, tiếng Việt nghĩa là "... gì ấy nhỉ / ... gì ý nhỉ". Đây là hỏi về thứ bạn đã biết nhưng hiện giờ thì bạn đang quên mất.何だっけ nan dakke và 何だったっけ nan dattakke khác nhau như thế nào? Chỉ đơn thuần là hỏi về thứ trong hiện tại, đương nhiên hay thường xuyên diễn ra thì dùng "nan dakke" còn hỏi về một sự vật, sự việc quá khứ thì dùng "nan dattakke".
Bạn cũng có thể dùng dạng nói lịch sự: 何でしたっけ nan deshitakke? Mấu chốt chỉ là bạn thêm っけ ở cuối câu. Bạn có thể hỏi:
- 彼は社長だっけ? Kare wa shachou dakke? Ông ấy là giám đốc đấy nhỉ?
Triết lý: Hãy dùng câu lửng
Mặt trời luôn mọc và núi Phú Sỹ luôn đẹp太陽は毎度昇り富士山は毎度美しく
Taiyou wa maido nobori, Fuji-san wa maido utsukushiku
Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013
Nếu muốn thành công, phải giỏi ngôn ngữ mẹ đẻ
成功したいなら母語をよく理解しなければならない。
Seikou shitai nara, bogo wo yoku rikai shinakereba naranai.
Ví dụ "bất trắc" trong tiếng Việt có nghĩa là gì? Bạn phải hiểu rõ nghĩa trước khi dịch. Trong suốt cuộc đời, ngôn ngữ mẹ đẻ là thứ chúng ta luôn phải học và luôn có thể học thêm. Mặc dù ai cũng có thể giao tiếp nhưng số lượng từ vựng của mỗi người khác nhau và độ hiểu về từ vựng cũng khác nhau. Nếu bạn muốn được coi là một người thông minh, bạn phải biết nhiều từ vựng và hiểu chúng.
Khả năng vận dụng ngôn ngữ liên quan khá chặt tới thành công trong cuộc sống, đây là điều kiện cần chứ không phải đủ. (Điều kiện đủ là bạn phải trung thực, thái độ tốt, v.v... rất nhiều thứ mà Takahashi cũng chẳng nắm rõ! ^^).
Bạn muốn thành dịch giả giỏi thì bạn cũng phải nắm được ý nghĩa của từ vựng chứ không chỉ tra từ điển. Ví dụ từ này 万が一 Man'ga'ichi, rõ ràng cấu tạo khá đơn giản nhưng bạn có thể giải thích được ý nghĩa của nó không?
Chúng ta phải luôn tư duy về mặt ngữ nghĩa, mà trước hết là với ngôn ngữ mẹ đẻ. Khi bạn hiểu ngữ nghĩa luận rồi thì việc học sẽ không quá khó. Mỗi ngày bạn nâng cao thêm từ vựng là được. Ngữ nghĩa luận thực ra không khó, tự bạn cũng có thể học được. Tuy nhiên, bạn nên ý thức về vấn đề ngữ nghĩa và luôn tư duy xem nghĩa của một từ là gì nhé.
Bạn cũng có thể rèn luyện giải thích: "Lẽ ra", "Thảo nào", "Hóa ra là",...
>> Xem giải đáp về "bất trắc"
Seikou shitai nara, bogo wo yoku rikai shinakereba naranai.
Ví dụ "bất trắc" trong tiếng Việt có nghĩa là gì? Bạn phải hiểu rõ nghĩa trước khi dịch. Trong suốt cuộc đời, ngôn ngữ mẹ đẻ là thứ chúng ta luôn phải học và luôn có thể học thêm. Mặc dù ai cũng có thể giao tiếp nhưng số lượng từ vựng của mỗi người khác nhau và độ hiểu về từ vựng cũng khác nhau. Nếu bạn muốn được coi là một người thông minh, bạn phải biết nhiều từ vựng và hiểu chúng.
Khả năng vận dụng ngôn ngữ liên quan khá chặt tới thành công trong cuộc sống, đây là điều kiện cần chứ không phải đủ. (Điều kiện đủ là bạn phải trung thực, thái độ tốt, v.v... rất nhiều thứ mà Takahashi cũng chẳng nắm rõ! ^^).
Bạn muốn thành dịch giả giỏi thì bạn cũng phải nắm được ý nghĩa của từ vựng chứ không chỉ tra từ điển. Ví dụ từ này 万が一 Man'ga'ichi, rõ ràng cấu tạo khá đơn giản nhưng bạn có thể giải thích được ý nghĩa của nó không?
Chúng ta phải luôn tư duy về mặt ngữ nghĩa, mà trước hết là với ngôn ngữ mẹ đẻ. Khi bạn hiểu ngữ nghĩa luận rồi thì việc học sẽ không quá khó. Mỗi ngày bạn nâng cao thêm từ vựng là được. Ngữ nghĩa luận thực ra không khó, tự bạn cũng có thể học được. Tuy nhiên, bạn nên ý thức về vấn đề ngữ nghĩa và luôn tư duy xem nghĩa của một từ là gì nhé.
Cách tư duy về ngữ nghĩa
Ví dụ như từ "bất trắc", giả sử bạn cần giải thích cho bọn con nít miệng còn hôi sữa, hay cho người nước ngoài hiểu chẳng hạn, thì bạn sẽ làm gì? Chỉ có một cách: Dùng những từ ngữ dễ hiểu hơn để giải thích. Hãy tập giải thích mọi từ khó bằng những ngôn từ thật dễ hiểu mà những người chỉ số IQ dưới 50 như Takahashi cũng có thể hiểu được.Bạn cũng có thể rèn luyện giải thích: "Lẽ ra", "Thảo nào", "Hóa ra là",...
>> Xem giải đáp về "bất trắc"
Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013
"Vê-tai" không phải động từ, "Vê-tai" là một tính từ đuôi "i"
Vたい ("Vê-tai") là cách dùng diễn đạt "Tôi muốn ...". Nó là dạng từ gì? Bạn sẽ nghĩ nó là một động từ. Về mặt ngữ nghĩa thì đúng như vậy, "Vê-tai" là một động từ nhưng về mặt ngữ pháp thì nó là một TÍNH TỪ đuôi "i", tức là Aい (A-"i") và trong câu bạn phải chia nó như là tính từ đuôi "i" (tiếng Nhật có 2 loại tính từ là tính từ đuôi "na" Aな và tính từ đuôi "i" Aい).
Động từ sẽ kết thúc câu dạng ます masu: Ví dụ "taberu" thành "tabemasu", "nomu" (uống) => nomimasu. Còn tính từ đuôi "i" phải kết thúc câu là Aい+です = A-"i" desu.
V-"tai" cũng vậy:
すしがたべたいです Sushi ga tabetai desu = Tôi muốn ăn sushi.
Nối câu của V-"tai" giống như A-"i", đó là chuyển "i" thành "kute":
すしが食べたくてすし屋にいきました。
Sushi ga tabetakute, sushi-ya ni ikimashita. = Tôi muốn ăn sushi nên tới quán sushi.
Tóm lại: Vたい
Động từ sẽ kết thúc câu dạng ます masu: Ví dụ "taberu" thành "tabemasu", "nomu" (uống) => nomimasu. Còn tính từ đuôi "i" phải kết thúc câu là Aい+です = A-"i" desu.
V-"tai" cũng vậy:
すしがたべたいです Sushi ga tabetai desu = Tôi muốn ăn sushi.
Nối câu của V-"tai" giống như A-"i", đó là chuyển "i" thành "kute":
すしが食べたくてすし屋にいきました。
Sushi ga tabetakute, sushi-ya ni ikimashita. = Tôi muốn ăn sushi nên tới quán sushi.
Tóm lại: Vたい
- Về mặt ngữ nghĩa: Động từ
- Về mặt ngữ pháp: Tính từ "i" Aい

Dùng "ga" hay "wo"
Dùng "ga" thì chuẩn hơn vì đây là tính từ (về mặt ngữ pháp) mà. Bạn nên nói:- Sushi ga tabetai.
Danh động từ
Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013
Tôi muốn... Động từ tiếng Nhật dạng "tai"
Diễn tả muốn làm gì với Vたい
Bạn muốn làm gì thì dùng động từ dạng "tai" V たい. Cách chia: Vます bỏ "masu" và thêm "tai" vào, tức là:V(ます)たい.
Ví dụ:
- 飲む(のむ nomu = uống) => のみます => のみたい nomitai
- 食べる(たべる taberu = ăn) => たべます => たべたい tabetai
- Công thức: VNしたい
- VNがしたい
Bạn cũng có thể dùng "wo" thay cho "ga" nhưng có chút khác biệt về ngữ pháp (ý nghĩa thì vẫn giống).
Dạng khác nhấn mạnh sẽ dùng cấu trúc:
- Vる+ことがしたい
こと koto có chức năng biến một vế câu (Phrase, Clause) thành danh từ mà! Đây là dạng danh động từ VN, tức là chức năng ngữ pháp là danh từ (N) nhưng thể hiện một hành động (V) nào đó.
"Muốn" và "muốn có" là khác nhau
Nếu bạn muốn có thứ gì thì bạn dùng 欲しい hoshii.- Cấu trúc: N がほしい = N ga hoshii
"Hoshii" có vai trò một tính từ đuôi "i" nên bạn sử dụng nó với vai trò tính từ:
- 私が欲しいもの Watashi ga hoshii mono (Noun) = Thứ mà tôi thích, Thứ tôi thích (danh từ)
- 友達が欲しいです Tomodachi ga hoshii desu = Tôi muốn có bạn
- お金が欲しくてアルバイトをし始めた Okane ga hoshikute arubaito wo shihajimeta = Tôi muốn có tiền và đã bắt đầu làm thêm (nối câu)
Muốn có với 持ちたい mochitai và 有したい yuushitai (Hữu)
Nếu bạn muốn có thứ gì đó mà không muốn dùng "hoshii" thì vẫn dùng động từ V và chuyển thành Vたい được. Đó là dùng:- 持つ motsu (cầm, mang, có) => 持ちたい mochitai
- 有する Yuu suru (HỮU = có) => 有したい Yuu shitai
"Mochitai" thiên về ngôn ngữ nói còn "Yuu shitai" thiên về ngôn ngữ viết hơn.
Vai trò ngữ pháp: Vたい có vai trò tính từ đuôi "i" (Aい):
- すしをたべたいです Sushi wo tabetai desu = Tôi muốn ăn sushi
- アルバイトがしたくてお電話しました Arubaito ga shitakute odenwa shimashita (nối câu dùng "kute" thay "i") = Tôi muốn làm thêm nên gọi điện ạ
Muốn ai làm gì cho bạn
Bạn sẽ dùng cấu trúc:- Vてほしい = V-te hoshii = Tôi muốn bạn (làm gì) cho tôi
- お金を貸して欲しい Okane wo kashite hoshii = Tôi muốn bạn cho vay tiền
- 先生に満点をつけて欲しい Sensei ni manten wo tsukete hoshii = Tôi muốn được giáo viên chấm điểm tối đa (điểm 100).
Dạng khác để muốn người khác làm gì cho bạn:
- Vてくれたい = muốn người đang nói chuyện với bạn (nhân xưng thứ 2) làm gì cho bạn
- Vてもらいたい= muốn người khác làm gì cho bạn => [Ai] ni [việc gi] shite moraitai
- Vていただきたい = Dạng lịch sự của "kuretai" => Yêu cầu một cách lịch sự
Oshiete itadakitai desu = Tôi muốn anh chỉ cho tôi.
Không thể khẳng định "Bạn muốn ..." trong tiếng Nhật
Bạn không thể nói:あなたはお金を稼ぎたいAnata wa okane wo kasegitai = Bạn muốn kiếm tiền
Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013
Học tiếng Nhật qua các loài chim Nhật Bản
Trang Yurika vừa ra mắt Từ điển Yurica "Các loài chim chóc Nhật Bản". Nếu bạn sống tại Nhật và biết tên các loài chim thì sẽ khá thú vị và còn học được tiếng Nhật nữa. Các bạn sẽ thấy tiếng Nhật cũng khá đơn giản. Cũng sẽ hữu ích vì nếu có đi ngoài cánh đồng và thấy loài chim nào thì các bạn sẽ biết được tên của nó. Tôi nghĩ học tiếng Nhật về căn bản cũng để giúp ích cho cuộc sống và biết nhiều thì cuộc sống sẽ phong phú hơn.
Hay như chữ 鳰 gồm có 入 Nhập và Điểu, tức là "chim lội vào", bạn có thấy khá dễ nhớ không? Chữ này chỉ chim lội nước lội vào ruộng để kiếm đồ ăn.
Yurikamome = Mòng biển (hải âu) đầu đen, chim biểu tượng của Tokyo
丹頂 Tanchou = Sếu Nhật Bản (sếu đầu đỏ), biểu tượng của Hokkaido
Nguyên tắc 1: Viết tên bằng Katakana
Các loài chim ở Nhật đều được viết bằng chữ Katakana, cũng như tên động vật, thực vật, hay cá. Lý do để cho dễ đọc vì viết Kanji thì nhiều người không đọc được, dù vẫn hiểu. Ngoài ra, bạn cần nhớ là:- Phần lớn kanji để chỉ nghĩa chứ không chỉ cách đọc
- Bạn không thể suy luận cách đọc từ kanji được. Chỉ một số ít tên chim bằng kanji là chỉ cách đọc thôi.
Nguyên tắc 2: Các loài chim có tên viết bằng hán tự kanji
Dù ít dùng nhưng tên các loài chim thường vẫn có cách viết hán tự tương ứng. Tuy nhiên, chữ hán này không chỉ cách đọc.- Ví dụ các loài chim dẽ thì sẽ gọi là 鷸 (Duật), đọc là "shigi". Chữ này giống chữ 橘 (Quất, chỉ loài cam quất), tức là có một chữ chỉ âm đọc Duật và bộ Điểu 鳥 (tori).
- Chim bói cá sẽ gọi là 翡翠 (Phỉ Thúy) kawa-semi, Phỉ Thúy là chỉ màu sắc sặc sỡ.
- Quạ sẽ gọi là 烏 Ô "karasu".
- Chim cốc gọi là 鵜 Đề "u", tiếng Nhật ウ "u" là các loại chim cốc, ví dụ cốc đế "kawa-u". Chữ này gồm có Đệ 弟 (em, huynh đệ) và bộ Điểu 鳥.
- Gõ kiến là 啄木鳥 Trác Mộc Điểu, tức là chim mổ cây, viết vậy nhưng đọc là "gera".
- Diều hâu gọi là 鷹 Ưng "taka", gồm chữ 雁 Nhạn và bộ Điểu 鳥.
- Đại bàng là 鷲 Thứu, đọc là "washi", chữ này gồm chữ Tựu 就 (thành tựu, tề tự ở đâu đó) làm âm đọc và bộ Điểu 鳥.
- Cú mèo thì dùng 木菟 Mộc Thố hay 梟 Kiêu. Chữ Kiêu này gồm có con chim (鳥 Điểu) đậu trên cây (木 Mộc).
- Cò là 鷺 Lộ "Sagi" đồng âm với 詐欺 Trá Khi sagi nghĩa là "lừa đảo". Takahashi khuyên bạn đừng làm "cò"!
Nguyên tắc 3: Kanji của người Nhật và cấu tạo kanji chỉ tên chim
Tiếng Nhật cũng tạo ra chữ kanji để viết tên chim, như 鴫 gồm có Điền 田 "ta" và Điểu 鳥 "tori", tức là "chim ruộng", chỉ loài dẽ giun sống ở ruộng.Hay như chữ 鳰 gồm có 入 Nhập và Điểu, tức là "chim lội vào", bạn có thấy khá dễ nhớ không? Chữ này chỉ chim lội nước lội vào ruộng để kiếm đồ ăn.




