"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Ba, ngày 11 tháng 3 năm 2014

Không có cách nói nào sai, miễn là ... đúng ngữ pháp

Nhiều người cứ nói là tiếng Nhật của bạn lạ quá (変な日本語 Hen-na Nihongo) làm bạn mất tinh thần. Theo tôi, chẳng cần mất tinh thần, dù bạn nói hơi lạ. Vì mỗi người có vốn từ và cách nói khác nhau. Cái mà bạn cần quan tâm là:

Sống và làm việc đúng ngữ pháp!

Ngay cả tiếng Việt thì tôi cũng hay dùng từ khác lạ. Ví dụ tôi hay nói "sống hoành tráng", tiếng Nhật là 立派に生きる Rippa ni ikiru dù rất ít người nói thế này. Vì họ không sống hoành tráng chứ sao! Ngay cả tiếng Việt cũng không phải ai cũng xài. Thậm chí tôi chế tác thêm là "sống hoành bánh tráng" ha ha.

Chẳng có gì sai cả!

Chúng ta sáng tạo ra từ ngữ cho bản thân hay hội nhóm của chúng ta mà. Tôi hay dùng từ "triệt thoái" cho nó hoành tráng. Ví dụ, thay vì nói "Tôi về đây" thì tôi nói là "Tôi triệt thoái đây". Nhiều người sẽ cười vì thấy lạ, hay nghĩ tôi kém nhưng chả sao. Tôi vẫn nói đúng ý nghĩa đấy chứ?!

Tiếng Nhật thì "triệt thoái" là 撤退する Tettai suru (Triệt Thoái) nên tôi nói là: Tettai shimasu!

Có vấn đề gì đâu??

Cái khó của người mới học tiếng Nhật là họ biết nghĩa 1 từ nhưng không biết sử dụng từ đó thì có làm mọi người thấy lạ hay chê bai không. Theo tôi, bạn cứ dùng đi miễn là đúng ngữ pháp. Vì thường nếu bạn dùng từ hay dùng trong văn viết để nói thì mọi người cũng chỉ nghĩ là bạn "chững chạc" hay "nghiêm túc" thôi chứ không có vấn đề gì cả. Ví dụ "hiểu" (undestand) thì có nhiều cách nói:

わかる wakaru = hiểu
理解する rikai suru (Lý giải) = hiểu (rõ)
把握する haaku suru (Bả Ác) = nắm bắt (vấn đề, ...), nắm rõ
了解する ryoukai suru (Liễu Giải) = đã hiểu, đã rõ

Bạn dùng cách nào thì cũng không sao, dù nếu dùng "haaku" (bả ác) thì nghe hơi kiểu cách nhưng tôi vẫn thường dùng mà!

Sáng tạo cách nói

Sáng tạo cách nói mới cho vui, hay cho hoành tráng. Ví dụ thế này:
sống hoành tráng = 立派に生きる rippa ni ikiru

Thế "sống hoành bánh tráng" thì là gì? Tôi bịa ra là 立党派に生きる ritsutouha ni ikiru
立派 rippa (lập phái) => 立党派 ritsutouha (lập đảng phái)

Dù những từ như thế chẳng có trong từ điển cả tiếng Việt lẫn tiếng Nhật. Đây chỉ là JOKE (trò đùa) cho vui khi học hay viết tiếng Nhật thôi.

Nhưng người ta còn rút ngắn hơn, ví dụ sống hoành tráng thì nói là "sống hoành". Hay "rất hoành tráng" thì thành "rất hoành". Nếu dịch ra tiếng Nhật thì tôi sẽ nói là: 立に生きる ritsu ni ikiru.

Bạn sẽ thấy là thật ra các ngôn ngữ khá tương đồng đúng không? Miễn là chúng ta vẫn nói đúng ngữ pháp! thì chẳng có vấn đề gì quá lớn xảy ra.

Cái gì đứng trước danh từ?

Cái gì sẽ đứng trước và bổ nghĩa cho một danh từ. Chắc chắn tính từ làm được.
  • Một tính từ "i" = Aい
  • Một tính từ "na" = Aな
Thế nếu 2 tính từ đứng trước danh từ thì sao? Bạn phải dùng dạng nối câu thôi. Nghĩa là, 1 tính từ phải biến đổi thành dạng nối câu thay vì nguyên dạng và bổ nghĩa trực tiếp.
Ví dụ: supai + oishii => supakute oishii

Nhưng một danh từ cũng có thể đứng trước 1 danh từ khác thành cụm danh từ: N1 + N2 = N3
Ví dụ: Nihongo + sensei = Nihongo sensei = giáo viên tiếng Nhật

Và thông thường nhất là biến danh từ thành giống như tính từ để bổ nghĩa sử dụng trợ từ の ("của", biến danh từ thành tính từ):
Nihon no kasa = dù Nhật (kasa = ô, dù; Nihon = Nhật Bản).
Như vậy: N1 + の + N2 = N

Nhưng trước danh từ có thể là vế câu dạng plain (suồng sã): Phrase_plain + N = N
Ví dụ:
大学に合格した彼 Daigaku ni goukaku shita kare
Daigaku ni goukaku shita = đã đậu đại học
kare = anh ta
Đây là một danh từ mới với một danh từ được bổ nghĩa bởi vế câu. Chú ý là không thể dùng dạng "masu/desu" trước một danh từ.

Những quy luật ngữ pháp là cái chúng ta phải nhớ để nói, viết cho đúng luật chơi. Vậy có cách nào khác biến một danh từ thành tính từ?
Tôi sử dụng Nのような = "giống như N".
Đây có vai trò như tính từ "na", và "you-na" là "giống như".

Ví dụ: Shiro no you-na mono = thứ giống như màu trắng
(白 shiro = màu trắng (N)).
小学生のような日本語 Shougakusei no you-na nihongo = tiếng Nhật giống như học sinh tiểu học
(小学生 shougakusei Tiểu Học Sinh = học sinh tiểu học)

Bổ ngữ cho động từ (hay hành động/tính chất)

Tiếng Anh có thể để trạng ngữ bổ nghĩa cho động từ đứng trước hoặc sau:
sing lovely = ca hát một cách đáng yêu
lovely sing: ít nói hơn, thường ở dạng bị động "lovely sang"

Tiếng Việt, ở điểm này lại giống tiếng Nhật: Có thể nói "múa một cách uyển chuyển" chứ không thể nói "(một cách) uyển chuyển múa" được. Tiếng Anh thì có thể nói là "dance gracefully" hay "gracefully dance" (chú ý dạng này thường ở nhiều hơn ở dạng bị động: gracefully danced = (điệu múa nào đó) được múa một cách uyển chuyển).

Nhưng tiếng Nhật bắt buộc trạng ngữ phải đứng trước động từ mà nó bổ nghĩa:
Có thể nói: kirei ni kaku (viết một cách sạch sẽ) chứ không thể nói kaku kirei ni. Việc này liên quan tới cách kết thúc câu tiếng Nhật và bạn hãy tìm hiểu qua bài viết liên quan của Saroma Lang.

Và để biến tính từ thành trạng ngữ thì làm thế nào:
  • A-i => A-ku, ví dụ おいしい => おいしく
  • A-na => A-ni, ví dụ きれいな => きれいに
Ví dụ: sushi wo oishiku taberu = ăn sushi một cách ngon lành
kanji wo kirei ni kaku = viết kanji một cách sạch đẹp

Vậy tôi có thể đảo thứ tự một chút không? Saroma Lang: Có thể.
Ví dụ có thể viết:
- oishiku sushi wo taberu => "sushi wo taberu" là một vế, vai trò động từ và oishiku bổ nghĩa cho động từ này
- kirei ni kanji wo kaku => được, lý do như trên

Miễn là "trạng ngữ bổ nghĩa" phải đứng trước động từ!

Bonus thêm của Takakashi

Bàn về cách kết thúc câu một chút. Mặc dù bạn phải kết thúc câu theo dạng đã định, nhưng cũng có một số lựa chọn.
Ví dụ với tính từ "i" như oishii:
Dạng masu/desu:
  • Khẳng định: Oishii desu
  • Phủ định: Oishiku arimasen / Oishikunai desu
  • Quá khứ: Oishii deshita
  • Phủ định, quá khứ: Oishikunai deshita
Dạng plain (suồng sã):
  • Khẳng định: Oishii
  • Phủ định: Oishikunai
  • Quá khứ: Oishikatta
  • Phủ định, quá khứ: Oishikunakatta
Nhưng dạng quá khứ của masu/desu cũng có thể nói là: Oishikatta desu
Tức là kết hợp quá khứ của plain và dạng masu/desu. Miễn là bạn kết thúc câu đúng cách!
Hay là phủ định + quá khứ dạng masu/desu: Oishikunakatta desu.
Phủ định: Oishikunai desu (thông thường là Oishiku arimasen).

Nhưng với những người khó tính thì họ sẽ khắt khe hơn. Ví dụ chỉ có "Oishiku arimasen" mới là đúng, chính tắc. Còn dạng khác thì phải biến thành danh từ:
Oishikunakatta no desu
Oishikunai no desu
thì mới đúng ngữ pháp. Bạn có thể tham khảo bài về sử dụng "no/n" cuối câu của Saroma Lang.

Bạn không thể nói đúng ngữ pháp theo ý của tất cả mọi người, nhưng chỉ cần có ý thức nói đúng ngữ pháp và suy nghĩ về ngữ pháp là được.

Chúc may mắn!

Takahashi @ Saroma Lang

1 nhận xét: