Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

Không có gì đặc biệt: Betsu ni, toku ni...

Trong tiếng Nhật, nói "Cũng không có gì đặc biệt" thì sẽ nói thế nào?

Tiếng Nhật có một cụm từ là 別に betsu ni.
Kanji: 別 BIỆT = khác, khác biệt, tạm biệt, chia tay.
"Betsu ni" thường dùng để trả lời câu hỏi nào đó.

Ví dụ:
今日何か面白い計画ある?Kyou nanika omoshjirui keikaku aru?
Hôm nay có gì thú vị không?

Trả lời:
別に。Betsu ni = Không có gì đặc biệt cả.

Đây là trả lời tắt. Trả lời đầy đủ là:
別に面白い計画がない。Betsu ni omoshiruoi keikaku ga nai.
Không có kế hoạch gì đặc biệt cả.

Ví dụ:
何か飲みたいものがある。Nanika nomitai mono ga aru?
Bạn muốn uống thứ gì đó không?
Đáp:
別に。Betsu ni.
Không cần gì đâu.

"Betsu ni" thường chắc chắn sẽ là phủ định tiếp sau đó. Tức là, nó chỉ dùng cho ý nghĩa phủ định.

Còn một cách khác để nói là dùng 特に Toku ni.
Kanji: 特 ĐẶC = đặc biệt.
Tuy vậy, để nói "không có gì đặc biệt" thì bắt buộc sau "toku ni" phải là một vế câu phủ định vì "toku ni" có thể dùng với nghĩa khẳng định nữa.

Ví dụ:
特に面白い番組がない。Toku ni omoshiroi bangumi ga nai. Không có chương trình thú vị gì đặc biệt cả.

Nó cũng được dùng với nghĩa khẳng định:
特に、日本では4月になると桜がとても美しく咲く。
Toku ni, Nihon dewa shigatsu ni naru to, sakura ga totemo utsukushiku saku.
Đặc biệt, ở Nhật Bản, cứ tháng 4 tới là hoa anh đào sẽ nở rất đẹp.

Chìa khóa: 別に Betsu ni (chỉ phủ định), 特に Toku ni (khẳng định / phủ định).

Không cần đâu

Bạn có thể nói "Không cần đâu" khi có người đề nghị giúp đỡ bằng cách nói 別にいいです Betsu ni ii desu.
Ví dụ:
荷物を持ってあげましょうか。Nimotsu wo motte agemashou ka. = Để tôi mang hành lý giúp cho nhé.
別にいいです Betsu ni ii desu. = Không cần đâu ạ.

Để sống hoành tráng

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

"Tôi mời" và văn hóa trả tiền của người Nhật

Chúng ta thường gặp lời mời thế này:

食事に行きませんか
Shokuji ni ikimasen ka?
Bạn đi ăn không?

Rủ ăn trưa thì sẽ là dùng đại loại như:
Hiru-gohan wo tabe ni ikimasen ka?
Hiru-meshi wo tabe ni ikimasen ka?
Ranchi ni ikimasen ka?

Ranchi là từ tiếng Anh Lunch (bữa trưa). Tiếng Nhật cũng giống tiếng Việt, rủ làm gì thì dùng phủ định, tức là hỏi "có (làm gì) không".
ランチ: Lunch, bữa trưa
昼ごはん Hiru gohan = bữa trưa (昼御飯 Trú Ngự Phạn)
昼飯 Hirumeshi (Trú Phạn) = cơm trưa

Đây chỉ là rủ đi ăn cùng thôi, chứ không phải họ mời bạn nên họ sẽ không trả tiền cho bạn. Văn hóa mời ở Nhật cũng giống ở Sài Gòn, rủ đi ăn là đi ăn chung còn trả tiền lại riêng. Điều này khác biệt so với Hà Nội, khi người rủ thường sẽ trả tiền bao luôn mọi người. Nhiều người vào SG có thể mất bạn bè vì điều hiểu lầm này.

Nếu người Nhật mời bạn ăn thì sẽ là:

奢りますよ Ogorimasu yo = Tôi mời bạn
今日は奢りますよ Kyou wa ogorimasu yo = Hôm nay tôi mời
奢るよ Ogoru yo = Tớ trả tiền cho (bạn bè)

Có một cách nói khác đó là ご馳走するよ Go-chisou suru yo = "Tôi sẽ mời bạn" nhưng câu này cũng dùng trong hoàn cảnh "Tôi sẽ nấu ăn đãi bạn", 馳走 Chisou Trì Tẩu là chỉ việc đôn đáo chạy đi chạy lại, ở đây là trong bếp khi bạn nấu ăn đãi khách. Do đó ご馳走様 Go-chisou-sama là cách gọi lịch sự của người đã vất vả nấu ăn cho bạn.

Go-chisou shite ageru = Tôi sẽ mời bạn ăn / Tôi sẽ nấu ăn mời bạn ăn

Khi một người kêu bạn đi quán và nói là "Go-chisou suru yo" thì có nghĩa là họ sẽ trả tiền thay cho bạn.

Go-chisou sama
Khi bạn vào quán ăn, sau khi ăn xong và ra về bạn thường nói "Go-chisou sama deshita", tức là "Cám ơn vì bữa ăn ngon".

Văn hóa trả tiền của người Nhật

Người Nhật ít khi bao bạn bè, mà họ thường góp tiền để trả, gọi là 割り勘 warikan, gọi tắt của 割前勘定 Warimae Kanjou (Cát Tiền Khám Định), ở đây Kanjou - Khám Định có nghĩa là tính bill, hay tính tiền đó. 割る Waru = chia ra là chia số tiền đó ra, 割前 warimae là phần tiền chia. Tiếng Anh của warikan là going Dutch (đi ăn kiểu Hà Lan) hay Dutch treat. Người Hà Lan hay bị châm biếm vì tính sòng phẳng này.

Warikan nghĩa là chia số tiền cho số người và mỗi người trả tiền bằng nhau.

Ăn uống ở Nhật rất tuyệt! Càng tuyệt hơn nếu có người trả tiền cho ta!

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

Ông bà nội, ông bà ngoại thì nói thế nào?

Bài trước các bạn cũng biết qua về cách xưng hô trong gia đình Nhật Bản ở bài Xưng hô như người Tô-ki-ô. Thế nói ông bà nội, ông bà ngoại thì thế nào?

Ông, bà nội: Dùng 父方 chichi-kata (Phụ Phương), tức "bên cha"
Ông, bà ngoại: Dùng 母方 haha-kata (Mẫu Phương), tức là "bên mẹ"

Ông nội: 父方のお爺さん chichi-kata no ojiisan
Bà nội: 父方のお婆さん chichi-kata no obaasan

Ông ngoại: 母方のお爺さん haha-kata no ojiisan
Bà ngoại: 母方のお婆さん haha-kata no obaasan

Chú ý là ojiisan và obaasan không chỉ chỉ ông, bà mình mà chỉ ông lão, bà lão ngoài đường nữa. (Tham khảo bài Xưng hô như người Tô-ki-ô)

"Cụ" thì dùng chữ 祖父 Sofu (Tổ Phụ) và 祖母 Sobo (Tổ Mẫu). Bạn hãy tham khảo bài viết về quan hệ họ hàng trên Wikipedia: 続柄 và おばあさん.

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Ani, onii-san hay aniki: Xưng hô như người Tô-ki-ô

Có bạn hỏi mình qua facebook là "anh" thì gọi là ani, onii-san hay aniki.
Tôi đã trả lời trên facebook và nội dung như dưới đây.

"Anh trai" thì là "ani" nhưng khi gọi anh mình thì gọi là "oniisan", chú ý ani có 1 i thôi còn oniisan là ni và i nhé. Khi nói với người khác mà nói anh tôi thì nói là "watashi no ani". Bạn xem bên dưới cách viết kanji, hiragana.
Nhưng nếu gặp một anh không phải họ hàng mà lớn tuổi hơn thì cũng gọi là oniisan được.

Gọi mẹ cũng vậy, gọi mẹ mình là okaasan, khi gặp người khác có con thì cũng gọi là okaasan được, tức là "chị, cô", thường gọi khi người đó đi cùng con của mình. Các cách gọi kiểu này là cách gọi lịch sự nhưng thân thiết, không suồng sã mà lại tạo cảm giác như là thân quen.

Còn người Kansai (Osaka, Kyoto, ...) thì thay vì gọi oniisan thì gọi là aniki. Còn nói về các bà chị thì là aneki. (Chắc các bạn cũng biết phim Kiken-na Aneki do Itou Misaki đóng chứ nhỉ)

Có thể dịch aniki, aneki ra là "ông anh", "bà chị" đó.

Tóm lại: Gọi anh mình là oniisan, niisan (thân thiết hơn), niichan (thân thiết)
Chị mình: oneesan, neesan, neechan

Gọi ba mình: Otousan, tousan, touchan
Gọi mẹ mình: Okaasan, kaasan, kaachan

Gọi ông, bà mình: Ojiisan, jiisan, jiichan / Obaasan, baasan, baachan

Anh lớn tuổi hơn: Oniisan (thân thiết), anata (xa cách)
Chị lớn tuổi hơn: Oneesan (thân), anata (xa cách)

Gọi anh mình, chị mình với người khác: Watashi no ani, watashi no ane
Gọi mẹ, ba mình với người khác: Haha, chichi (watashi no haha, watashi no chichi thì cũng được nhưng thừa thãi)

Gọi ba mẹ người khác: Tajima-san no otousan, Tajima-san no okaasan

Nói cha, mẹ trong văn bản chính thức hay văn kể:
Cha: 父親 Chichioya (Phụ Thân)
Mẹ: 母親 Hahaoya (Mẫu Thân)
Cha mẹ: 両親 Ryoushin (Lưỡng Thân) / 親 Oya (Thân)

Oya cũng dùng khi nói chuyện: Watashi no oya = ba mẹ tôi
Watashi no ryoushin = ba mẹ tôi

両親 cũng có thể dùng trong giao tiếp và dạng lịch sự là ご両親 Go-Ryoushin, ví dụ ご両親はいかがですか "Go-Ryoushin wa ikaga desu ka?" nghĩa là "Hai bác nhà anh/chị có khỏe không?" (hỏi thăm cha mẹ người đối diện).

Cách viết kanji, hiragana

Ani thì là あに nhưng oniisan thì có thêm một "i" nữa nhé: おにいさん

Anh: 兄(あに Ani, Kanji: Huynh)、お兄さん(おにいさん Oniisan)、兄貴(あにき Aniki)
Chị: 姉(あね Ane, Kanji: Tỷ)、お姉さん(おねえさん Oneesan)、姉貴(あねき Aneki)
Mẹ: 母(はは Haha, kanji: Mẫu)、お母さん(おかあさん Okaasan)、母ちゃん(かあちゃん Kaachan)
Cha: 父(ちち Chichi, kanji: Phụ)、お父さん(おとうさん Otousan)、父ちゃん(とうちゃん Touchan)
Bà: お婆さん(おばあさん Obaasan, kanji: Bà)
Ông: お爺さん(おじいさん Ojiisan, Kanji: Gia)

Tuy nhiên, đây là bộ gõ của mình thôi. Bộ giáo dục Nhật Bản (MEXT) đã thay đổi cách viết kanji, đó là khi nói Okaasan thì không viết お母さん nữa mà chỉ viết là 母さん mà thôi. (Xem tại đây)

Người Kansai và người Kantô (người Tô-ki-ô)

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Kimi no sasai-na mondai wa nan dattakke?

Câu chuyện là thế này:


Mặt trời luôn mọc và núi Phú Sỹ luôn đẹp
太陽は毎度昇り富士山は毎度美しく
Taiyou wa maido nobori, Fuji-san wa maido utsukushiku

・・・
・・・
・・・

Vấn đề nhỏ bé của bạn là gì ý nhỉ?
君の些細な問題は何だったっけ。
Kimi no sasai-na mondai wa nan dattakke?

>> Trên Facebook SaromaLang

"kke" trong だったっけ "dattakke" nghĩa là gì?

Chúng ta đều biết câu hỏi "nan datta?" nghĩa là "(đã) là cái gì?". Ở đây hỏi "Vấn đề nhỏ bé của bạn là cái gì?" nhưng mà lại thêm "kke" (có tsu nhỏ nên phải là âm lặp). "kke" là dùng trong câu hỏi về thứ bạn đã nghe nhưng lại quên, tiếng Việt nghĩa là "... gì ấy nhỉ / ... gì ý nhỉ". Đây là hỏi về thứ bạn đã biết nhưng hiện giờ thì bạn đang quên mất.
何だっけ nan dakke và 何だったっけ nan dattakke khác nhau như thế nào? Chỉ đơn thuần là hỏi về thứ trong hiện tại, đương nhiên hay thường xuyên diễn ra thì dùng "nan dakke" còn hỏi về một sự vật, sự việc quá khứ thì dùng "nan dattakke".

Bạn cũng có thể dùng dạng nói lịch sự: 何でしたっけ nan deshitakke? Mấu chốt chỉ là bạn thêm っけ ở cuối câu. Bạn có thể hỏi:
  • 彼は社長だっけ? Kare wa shachou dakke? Ông ấy là giám đốc đấy nhỉ?

Triết lý: Hãy dùng câu lửng

Mặt trời luôn mọc và núi Phú Sỹ luôn đẹp
太陽は毎度昇り富士山は毎度美しく
Taiyou wa maido nobori, Fuji-san wa maido utsukushiku

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Nếu muốn thành công, phải giỏi ngôn ngữ mẹ đẻ

成功したいなら母語をよく理解しなければならない。
Seikou shitai nara, bogo wo yoku rikai shinakereba naranai.

Ví dụ "bất trắc" trong tiếng Việt có nghĩa là gì? Bạn phải hiểu rõ nghĩa trước khi dịch. Trong suốt cuộc đời, ngôn ngữ mẹ đẻ là thứ chúng ta luôn phải học và luôn có thể học thêm. Mặc dù ai cũng có thể giao tiếp nhưng số lượng từ vựng của mỗi người khác nhau và độ hiểu về từ vựng cũng khác nhau. Nếu bạn muốn được coi là một người thông minh, bạn phải biết nhiều từ vựng và hiểu chúng.

Khả năng vận dụng ngôn ngữ liên quan khá chặt tới thành công trong cuộc sống, đây là điều kiện cần chứ không phải đủ. (Điều kiện đủ là bạn phải trung thực, thái độ tốt, v.v... rất nhiều thứ mà Takahashi cũng chẳng nắm rõ! ^^).

Bạn muốn thành dịch giả giỏi thì bạn cũng phải nắm được ý nghĩa của từ vựng chứ không chỉ tra từ điển. Ví dụ từ này 万が一 Man'ga'ichi, rõ ràng cấu tạo khá đơn giản nhưng bạn có thể giải thích được ý nghĩa của nó không?

Chúng ta phải luôn tư duy về mặt ngữ nghĩa, mà trước hết là với ngôn ngữ mẹ đẻ. Khi bạn hiểu ngữ nghĩa luận rồi thì việc học sẽ không quá khó. Mỗi ngày bạn nâng cao thêm từ vựng là được. Ngữ nghĩa luận thực ra không khó, tự bạn cũng có thể học được. Tuy nhiên, bạn nên ý thức về vấn đề ngữ nghĩa và luôn tư duy xem nghĩa của một từ là gì nhé.

Cách tư duy về ngữ nghĩa

Ví dụ như từ "bất trắc", giả sử bạn cần giải thích cho bọn con nít miệng còn hôi sữa, hay cho người nước ngoài hiểu chẳng hạn, thì bạn sẽ làm gì? Chỉ có một cách: Dùng những từ ngữ dễ hiểu hơn để giải thích. Hãy tập giải thích mọi từ khó bằng những ngôn từ thật dễ hiểu mà những người chỉ số IQ dưới 50 như Takahashi cũng có thể hiểu được.

Bạn cũng có thể rèn luyện giải thích: "Lẽ ra", "Thảo nào", "Hóa ra là",...

>> Xem giải đáp về "bất trắc"

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

"Vê-tai" không phải động từ, "Vê-tai" là một tính từ đuôi "i"

Vたい ("Vê-tai") là cách dùng diễn đạt "Tôi muốn ...". Nó là dạng từ gì? Bạn sẽ nghĩ nó là một động từ. Về mặt ngữ nghĩa thì đúng như vậy, "Vê-tai" là một động từ nhưng về mặt ngữ pháp thì nó là một TÍNH TỪ đuôi "i", tức là Aい (A-"i") và trong câu bạn phải chia nó như là tính từ đuôi "i" (tiếng Nhật có 2 loại tính từ là tính từ đuôi "na" Aな và tính từ đuôi "i" Aい).

Động từ sẽ kết thúc câu dạng ます masu: Ví dụ "taberu" thành "tabemasu", "nomu" (uống) => nomimasu. Còn tính từ đuôi "i" phải kết thúc câu là Aい+です = A-"i" desu.

V-"tai" cũng vậy:
すしがたべたいです Sushi ga tabetai desu = Tôi muốn ăn sushi.

Nối câu của V-"tai" giống như A-"i", đó là chuyển "i" thành "kute":
すしが食べたくてすし屋にいきました。
Sushi ga tabetakute, sushi-ya ni ikimashita. = Tôi muốn ăn sushi nên tới quán sushi.

Tóm lại: Vたい
  • Về mặt ngữ nghĩa: Động từ
  • Về mặt ngữ pháp: Tính từ "i" Aい

Dùng "ga" hay "wo"

Dùng "ga" thì chuẩn hơn vì đây là tính từ (về mặt ngữ pháp) mà. Bạn nên nói:
  • Sushi ga tabetai.
Tuy nhiên, bạn nói là "Sushi wo tabetai" thì cũng không sao vì không sai về mặt ngữ nghĩa. Trong trường hợp này, có thể hiểu "Sushi wo taberu" (ăn sushi) như là một động từ. Nhiều người khó tính sẽ cho rằng dùng "wo" là sai nhưng Takahashi thì dễ tính mà (và thường xuyên dùng sai!) ha ha ha.

Danh động từ