Hiển thị các bài đăng có nhãn chữ kanji. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chữ kanji. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2019

Chiết tự

Có lần đi ăn ở Hà Nội trong quán ăn tôi thấy chữ này:


Chữ này nhìn có vẻ phức tạp và không phải chữ thông thường, mà có lẽ là ghép nhiều chữ vào. Để hiểu được những chữ như thế này thì phải biết cách "chiết tự" tức là băm một chữ hán ra thành nhiều chữ hay thành phần nhỏ hơn (chiết tự nghĩa là "bẻ chữ ra cho nhỏ").

Chữ này có thể bẻ ra thế nào?

Chắc chắn là có chữ 進 TIẾN, và tra theo bộ "miên" (mái nhà) bên trên thì chúng ta sẽ thu được chữ 寶 BẢO tức là vật quý, trân quý. Còn lại thì không rõ vì các nét bị lược đi khá nhiều.

Khi tra 寶進 trên web thì tôi thu được kết quả nó là chữ này:


Đây là chữ ghép của 招財進寶 CHIÊU TÀI TIẾN BẢO, dịch nôm na là "mang tới tài vận, gia tăng tài sản".

Khi ghép các chữ này vào một chữ (một dạng chơi chữ trong thư đạo) thì thu về:


Ở dạng này thì rõ ràng hơn là chữ 招財進寶 trên cùng (vì không lược bớt một số nét).
=> Tra 招財進寶 trên Yurica Kanji Dictionary

Đây cũng là một dạng của KHẢ NĂNG ĐỌC HIỂU!
Takahashi

Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018

Chữ hán giản thể, chữ hán phồn thể và chữ kanji

Vì sao người Trung Quốc dùng chữ hán giản thể?

Một chữ kanji có thể có nhiều dạng gần giống nhau, ví dụ chữ 産 SẢN:

Tiếng hán phồn thể: 產
Tiếng hán giản thể: 产
Kanji tiếng Nhật: 産

Hay chữ 桜 ANH [sakura, hoa anh đào]:

Tiếng hán phồn thể: 櫻
Tiếng hán giản thể: 樱
Kanji tiếng Nhật: 桜

Thậm chí, một chữ có hàng chục biến thể cách viết (variant) khác nhau, ví dụ đây là chữ 辺 BIÊN [hen]:

Image: Quora [link below]

Thường thì chúng ta chia ra làm ba loại:
1. Tiếng hán phồn thể, tức là Traditional Chinese hay 繁体字 [phồn thể tự]
2. Tiếng hán giản thể, tức là Simplified Chinese hay 簡体字 [giản thể tự]
3. Chữ hán của người Nhật, tức là chữ kanji hay 新字体 [tân thể tự]

Nói chung thì, cơ bản các chữ trên sẽ khác nhau, chưa kể vấn đề về font nữa. Tôi thấy, chữ Nhật vẫn mang tính nghệ thuật và nhìn bắt mắt hơn.

Vì sao người Trung Quốc dùng chữ hán giản thể?

Thực ra không phải là do chính phủ nghĩ ra, mà là vốn các lối viết tắt đã có sẵn trong dân gian lâu rồi, để viết cho nhanh. Vì thế, một chữ cũng có rất nhiều lối viết tắt do mỗi người nghĩ ra, không thống nhất.

Bản thân người Trung Quốc cũng đã từng tìm cách chuyển sang dạng chữ kiểu chữ hangul tiếng Hàn, hay chữ latinh, nhưng không thành công mấy. Vì chữ hán quá phức tạp để viết và học.

Ngày nay bạn gõ máy tính còn đỡ, hãy tưởng tượng bạn phải viết xem, thế nào cũng phải viết tắt. Ngay cả người Nhật viết tay họ cũng viết tắt, phải nhìn mà đoán. Nhất là mấy ông thầy trên đại học thì viết tắt ác, và điều này cũng là tự nhiên thôi. Vì viết đủ ra thì bao giờ mới xong.

Nhà nước đầu tiên áp dụng chữ giản thể là Cộng hòa Trung Hoa hay Trung Hoa dân quốc (nay là Đài Loan), nhưng do bại chiến mà họ hủy giữa chừng. Sau này nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đổi sang chữ giản thể, còn Đài Loan, Hong Kong, Macau vẫn là chữ phồn thể.

Chuyển đổi giữa chữ hán giản thể, phồn thể và kanji của Nhật Bản

Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

Viết kanji thật sự có mấy LOẠI NÉT?

Nhìn một chữ kanji thì có vẻ lằng nhằng nhưng thật ra chỉ có vài "đường nét" cơ bản thôi. Ví dụ chữ này:

Hắc

Nét viết: 丨フ一一丨一一丶丶丶丶
丨: nét sổ thẳng
フ: nét đóng khung
一: nét ngang
丶: nét phết

Ví dụ khác: chữ kanji nhiều nét nhất bảng thường dụng hán tự Nhật Bản 鬱。

Uất

Nét viết: 一丨ノ丶ノ一一丨フ丨一丨ノ丶丶フノ丶丶丶丶丶フ丨ノフノノノ
ノ: nét sổ chéo (ngược với nét phết)

Tra cách viết:
kakijun.jp (animation)
Từ điển Hán Nôm: hvdic.thivien.net