Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

"Bán thân bất toại" 半身不遂 hay 半身不随 "bán thân bất tùy"?

"Bán thân bất toại" nghĩa là gì?

Đây là chứng "liệt nửa người" = 片麻痺(へんまひ、かたまひ、hemiplegia). Liệt nửa người là liệt nửa người trái hay liệt người người phải, chứ không phải liệt nửa trên hay liệt nửa dưới, cũng không phải liệt mặt trước hay liệt mặt sau. Có lẽ do cấu tạo cơ thể là não trái điều khiển nửa bên phải, não phải điều khiển nữa bên trái nhỉ?

Nếu bạn muốn kích thích bán cầu não phải thì hãy dùng tay trái nhiều vào. Mà bán cầu não phải là bán cầu não dùng để sáng tạo, nên bạn nên sử dụng tay trái thì tốt hơn.

Cũng không thể liệt nửa dưới, vì thế thì thường nói là "bại liệt". Cũng không thể liệt nửa trên, vì nửa trên vì nếu đã liệt nửa trên thì chắc không nói là "bán thân bất toại" mà sẽ nói là "toàn thân bất toại" luôn phỏng ạ? Nói cách khác là "đời sống thực vật".

Vì sao lại là "Bán thân bất toại" 半身不遂? Chữ "bất toại" là không còn hoạt động, cử động theo ý chí nữa, không hoành thành được động tác, chữ "toại" ở đây là hoàn thành, ví dụ như toại nguyện.

Ví dụ "giết người không thành" là 殺人未遂 satsujin misui, sất nhân bất toại.

Nhưng "bán thân bất toại" là trong tiếng Việt hay tiếng China thôi. Còn trong tiếng Nhật thì lại là:

半身不随 "bán thân bất tùy" => tiếng Nhật

Nửa người không còn đi theo (tùy) ý muốn của bạn nữa. Chữ "tùy" là "tùy thuộc", "tùy theo", "tùy tùng" nghĩa là đi theo.

Trong tiếng Nhật cũng dùng chữ TÙY:
随筆=ずいひつ TÙY BÚT = đoạn văn viết theo hứng, không phải theo bố cục chặt chẽ, hay để nghị luận vấn đề rõ ràng

随分=ずいぶん TÙY PHẦN = rất, nhiều => 随分暖かくなったね。

Chữ TOẠI 遂 và chữ TÙY 随 "tình cờ" cũng có trong ca từ Tây Du Ký.
人间事常难遂人愿,且看明月又有几回圆。
nhân gian sự thường nan toại nhân nguyện, thả khán minh nguyệt hựu hữu kỷ hồi viên.
Việc nhân gian thường khó mà chiều theo ý con người,
Thoáng chốc đã thấy trăng sáng lại mấy lần tròn.
Tóm lại thì trong tiếng Nhật "bán thân bất toại" thì sẽ là 半身不随 "bán thân bất tùy" đọc là はんしんふずい. Ý nghĩa là "liệt nửa người".

Giải thích như trên bạn có toại nguyện hay không thì tùy.
Takahashi

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017

Cách gọi bậc quân vương vua chúa (tham khảo)

Có bạn nào thắc mắc cách gọi quân vương vua chúa trong tiếng Anh và tiếng Nhật?

My lord = đại vương, 大王
Your grace = điện hạ, 殿下
Your majesty = thánh thượng, 聖上
Your highness = bệ hạ, 陛下

Nếu không gọi quân vương vua chúa mà gọi tôn kính thì là 閣下 (các hạ, kakka), tự xưng thì có thể là 小生 (tiểu sinh, shousei).

Nếu gọi "quý ngài", "quý bà" thì dùng ~殿 (dono, chữ "điện" trong 宮殿 cung điện, 殿下 điện hạ).

Vua chúa khôn ngoan gọi là 名君 MEIKUN (minh quân), vua chúa ngu dốt gọi là 暗君 ANKUN (ám quân).

Ngoài ra còn có 暴君 BOUKUN (bạo quân). Bạo quân là vua chúa bạo ngược, làm dân chúng khổ sở.

Người đứng đầu triều đại phong kiến cha truyền con nối gọi chung là 君主 KUNSHU (quân chủ) ví dụ chế độ quân chủ là 君主制 KUNSHUSEI (quân chủ chế).

Nhân tiện, "cha truyền con nối" gọi là 世襲 SESHUU (thế tập). Cần phân biệt "thế tập" và "thế tục" 世俗。

"Sổ tay tư duy từ vựng"

Tại lớp Cú Mèo Saromalang khi học tiếng Nhật quy định là bạn phải có SỔ TAY TƯ DUY từ vựng. Chúng ta sẽ học theo nhóm từ, học các từ liên quan thì sẽ vui hơn, mà "vui là chính, học là phụ" mới có thể duy trì lâu dài và bất chiến tự nhiên thành được đúng không nhỉ?

Ngoài việc học ngữ pháp và dịch cho đúng thì học từ vựng là vui nhất khi học ngoại ngữ nói chung và tiếng Nhật nói riêng. Và để học được phải có SỔ TAY TƯ DUY TỪ VỰNG. Đây là mục yêu cầu bắt buộc khi học tại lớp Cú Mèo từ nay trở đi. Sổ phải trắng, đẹp, dễ viết và có phẩm cách của sổ tay tư duy từ vựng.

Huấn luyện viên sẽ kiểm tra sổ tay của các bạn xem có đủ tiêu chuẩn chưa trước khi bắt đầu lớp học. Nếu không hợp yêu cầu có thể sẽ yêu cầu thay bằng sổ khác.
Takahashi

Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

不思議 "bất tư nghị" 不可思議 "bất khả tư nghị" và 不可解 "bất khả giải"

Mỗi ngày học vài từ tiếng Nhật thú vị cũng là cách tốt để giữ động lực học tiếng Nhật.

ĐỘNG LỰC = MOTIVATION モチベーション

Năng lực, IQ, bullshit không quan trọng bằng động lực. Ước mơ chỉ thành hiện thực nếu bạn có động lực. Học từ vựng nên là một trong các động lực để học tiếng Nhật.

不思議 "bất tư nghị" FUSHIGI

"Tư" là suy nghĩ, "Nghị" là nghị luận, suy xét. Khi nói về thứ gì "bất tư nghị" thì nghĩa là nó "kỳ lạ".

不思議な出来事
成功も不思議でない

Lưu ý là nó khác với 変な hen-na vì hen-na không phải là "kỳ lạ" mà là "kỳ quái, kỳ quặc".

不可思議 "bất khả tư nghị"

Thứ gì mà bạn "không thể lý giải nổi", vì "bất khả" nghĩa là không thể làm được.

不可解な言動

Ý nghĩa: 名・形動]理解しようとしても理解できないこと。また、そのさま。

不可解 "bất khả giải"

Nghĩa là "không thể hiểu được". Chữ 解 GIẢI là 解る wakaru tức là hiểu, hay hiểu được.

Ví dụ: 人生は不可解だ。 Cuộc đời không thể hiểu được. ↔ 不条理 Bất điều lý

人生は不可解なり

Bài tập áp dụng:
Câu 1: Tiếng Việt
Giải thích "kỳ lạ" có nghĩa là gì trong tiếng Việt.

Câu 2: Dịch câu sau ra tiếng Nhật.
Cuộc đời kỳ lạ tới mức có những hiện tượng không thể lý giải nổi nên tôi xin kết luận rằng bản chất của cuộc đời là không thể hiểu được. ^^

Chúc dịch vui!
Takahashi

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

Sự "phi lý" trong cuộc đời: 不条理 "bất điều lý" và 理不尽 "lý bất tận"

Các bạn học tiếng Nhật thì sẽ gặp hai từ này:

不条理 "bất điều lý" ふじょうり
理不尽 "lý bất tận" りふじん

Chúng đều có nghĩa là "phi lý", nhưng hai sắc thái lại khác nhau, do đó mà cách dùng khác nhau:

Bất điều lý

1 筋道が通らないこと。道理に合わないこと。また、そのさま。「不条理な話」
2 実存主義の用語。人生に何の意義も見いだせない人間存在の絶望的状況。カミュの不条理の哲学によって知られる。
《名・ダナ》事柄の筋道が立たないこと。 「人生の不条理 」

Ví dụ 人生の不条理 sự phi lý trong cuộc đời ("bất điều lý" của "nhân sinh")
不条理な話 = câu chuyện phi lý

"Bất điều lý" là nói về tính chất phi lý một cách khách quan của sự vật sự việc.

Lý bất tận

[名・形動]道理をつくさないこと。道理に合わないこと。また、そのさま。「理不尽な要求」「理不尽な扱い」
物事の筋道が通らないこと。道理にあわないこと。また、そのさま。無理無体。 「 -な要求」 「 -な仕打ち」
"Lý bất tận" nói về sự phi lý trong thái độ, cách thức đối xử, yêu cầu, ...
Có thể dịch ra là "quá vô lý, quá mức phi lý".

理不尽な要求 = yêu cầu phi lý, yêu cầu vô lý

Bài tập: Hãy phân tích ngữ nghĩa của 不条理 "bất điều lý" và 理不尽 "lý bất tận".

Sự phi lý trong cuộc đời = 人生の不条理

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2017

王道 "VƯƠNG ĐẠO" trong cuộc đời

王道 VƯƠNG ĐẠO nghĩa là gì?

Nghĩa đen của 王道 "vương đạo" là "con đường hoàng gia (royal road)", ban đầu cứ ngỡ đó là "con đường đúng đắn" vì theo quan điểm nho giáo thì vua luôn đúng, nếu vua sai thì bạn ra pháp trường. ^^

Nhưng hóa ra không phải. "Vương đạo" có hai nghĩa căn bản:

おうどう【王道】

尭(ぎよう)・舜(しゆん)ら先王の行なった、仁徳に基づく政治。儒家の理想とする政治思想で、孟子によって大成された。 ↔ 覇道はどう

〔royal road の訳語〕 安易な方法。楽な道。近道。 「学問に-なし」

Nghĩa thứ nhất là tư tưởng nho giáo về nền chính trị dựa trên nhân đức mà các vua trước như Nghiêu, Thuấn đã thực hiện. Trong nghĩa này, từ trái nghĩa với "vương đạo" là "bá đạo" 覇道, tức là nền chính trị cai trị bằng quyền lực và sự cưỡng chế.

Nhưng nghĩa thứ hai là "phương pháp dễ dàng, con đường dễ dàng, con đường tắt".

Nghĩa này không phải là vốn có trong tiếng Nhật mà là dịch từ "royal road" trong tiếng Anh ra. "Royal road" được hiểu là con đường dễ dàng, vì con đường của hoàng gia mà còn không dễ thì ai dễ vào đây nữa?

Trong cuộc sống thường ngày chúng ta dùng "vương đạo" theo nghĩa "con đường dễ dàng, cách dễ dàng" (kiểu "bất chiến tự nhiên thành").

Ví dụ: 学問に王道なし = Không có con đường dễ dàng trong học vấn

Hoặc tôi chế ra câu này:
「資本主義に反対します。社会主義に反対します。」と何にでも反対する人がいるけれど、それはただ被害者意識にすぎないと思う。どんな社会でも一生懸命仕事をしてその労働で報酬を得てそのお金で時間を買ったり幸せを買ったりするのは王道じゃなかろうか。
Có những người cái gì cũng phản đối như "Tôi phản đối chủ nghĩa tư bản. Tôi phản đối chủ nghĩa xã hội." nhưng tôi nghĩ đó chẳng qua chỉ là ý thức (bản thân là) nạn nhân. Cho dù xã hội như thế nào thì chẳng phải làm việc hết sức để nhận tiền công dựa trên lao động đó rồi mua thời gian, mua hạnh phúc bằng số tiền đó là "vương đạo" (con đường dễ dàng) hay sao?
Như thế, "vương đạo" thật sự trong cuộc đời là học tập và lao động, không phải đấu tranh chính trị.

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017

Cách dịch từ vựng và ngữ pháp: Không phải là SƯU CAO THUẾ NẶNG thì là gì?

"Không phải là sưu cao thuế nặng thì là gì?"

Dịch câu trên ra tiếng Nhật tại lớp dịch thuật Cú Mèo Saromalang.

"Sưu cao thuế nặng" nghĩa là gì?

Tiền sưu: Thuế thân, còn gọi là thuế đinh, thuế đầu người, hay sưu là một trong thứ thuế của chế độ phong kiến và quân chủ. Đây là sắc thuế tiêu biểu trong các sắc thuế khoán. Thuế thân căn cứ vào cư dân địa phương, mỗi dân đinh đều phải nộp.

Thuế thì có nhiều loại thuế đánh trên mỗi mặt hàng chắc ai cũng quen rồi.

Ngày nay không còn thuế thân nữa mà sẽ thành thuế tiêu thụ (một số nước gọi là thuế VAT, tức thuế giá trị gia tăng), thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế môn bài (thuế đăng ký kinh doanh), ngoài ra còn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm sức khỏe nữa. Mỗi người có một cơ số thuế phải đóng.

Người ta có câu: Có hai thứ con người không thể chạy trốn, đó là thuế và cái chết.

Sắp tới lại sắp tăng thuế đấy. Thế nên mới có câu "sưu cao thuế nặng", hiện không còn tiền sưu tức là thuế thân nữa, nhưng đố bạn nào sinh ra mà không phải chịu thuế thân đấy? Tính sơ sơ bổ đầu người thì trẻ em sinh ra ở nước nghèo đã chịu sẵn một số nợ quốc gia nhất định - bằng ngoại tệ - nên sinh ra đã là một con nợ.

Chưa kể ở xứ nho giáo thì con cái là con nợ của cha mẹ nữa, trả đời nào cho trọn chữ hiếu? Tôi gọi đây là thuế nho giáo.

Gọi chung thành một quán ngữ là "sưu cao thuế nặng". Tất nhiên, "sưu cao thuế nặng" có lẽ là định mệnh của các bạn, nên hãy vui vẻ chịu thôi.

"Sưu cao thuế nặng" tiếng Anh gọi là EXACTION:
exaction /ɪɡ.ˈzæk.ʃən/
1. Sự tống (tiền... ); số tiền tống, số tiền đòi hỏi.
2. Sự đòi hỏi không hợp pháp, sự đòi hỏi quá quắt, sự sách nhiễu; sự bóp nặn (tiền của... ).
3. Sưu cao thuế nặng.

Vốn thì EXACTION là sự tống tiền, sự bóp nặn, "sưu cao thuế nặng" là sự bóp nặn, bòn rút từ nhân dân.

Tiếng Nhật gọi là:
exactionとは
強要、強制取り立て、厳しい要求、強制取り立て金、重税

重税 trọng thuế
強制取り立て金 tiền trưng thu (bóp nặn) một cách cưỡng chế

Trong tiếng Nhật sẽ dùng từ 重税 (じゅうぜい, trọng thuế), đôi khi còn gọi là 苛税 (kazei, hà thuế).

"Đó không phải sưu cao thuế nặng thì là gì?"

Đây là một câu hỏi tu từ. Câu này là câu khẳng định đó chính là sưu cao thuế nặng. Nó tượng tự câu hỏi tu từ sau:

"Đó không phải là sưu cao thuế nặng hay sao?"
= それは重税ではないでしょうか
or それは重税ではないだろうか

Trong tiếng Nhật câu hỏi tu từ dạng này sẽ dùng ではないでしょうか (lịch sự) hay ではないだろうか (không lịch sự).

Còn câu "Đó không phải sưu cao thuế nặng thì là gì?" thì đây thường được coi là ngữ pháp JLPT N1. Chúng ta sẽ nói như sau:

"Đó không phải là sưu cao thuế nặng thì là gì?"
= それは重税でなければ何だろう。

Chúng ta sử dụng でなければ何だろう。 (denakereba nandarou)

"Đó chẳng phải tình yêu đích thực thì là gì?"
それは真の愛じゃなければ何だろう。
Sorewa shin no ai janakereba nandarou.

Đôi khi chúng ta cũng nói tắt hay nói dạng phương ngữ:

それは真の愛じゃなきゃじゃろう。
⇒なきゃ=なければ、じゃろう=だろう

Tất nhiên bạn cũng có thể nói dạng lịch sự: 彼は真の友人でければなんでしょう。

Nhân tiện, học ngôn ngữ không phải là cách rèn nhân cách tốt nhất thì là gì?
Luôn thắc mắc về điều đó, chẳng bao giờ có câu trả lời ^^ アハハハ。
Takahashi

Thứ Hai, 4 tháng 9, 2017

りん議 RINGI dịch ra tiếng Việt là gì?

Hôm trước vừa học LƯU NGHI 流儀(りゅうぎ) thì hôm nay học りん議(りんぎ)。

りん議 là cách viết của 稟議, vì chữ 稟 không có trong bảng thường dụng hán tự nên viết bằng hiragana, tuy nhiên, vốn 稟議 lại đọc là ひんぎ nhưng theo thói quen thì đọc thành りんぎ。

稟議 lẽ ra đọc là ひんぎ HINGI bởi vì chữ này là "bẩm nghị".

"Bẩm nghị" là một nét văn hóa công ty Nhật Bản

Bạn nào làm việc ở công ty Nhật chắc biết văn hóa RINGI, hay đúng ra phải là HINGI 稟議 [BẨM NGHỊ].

RINGI tức là thế này: Bạn có một đề đạt cần được mọi người trong công ty thông qua mà tổ chức họp hành thì mất thời gian và cũng khó mà tập hợp được mọi người lấy ý kiến, nên bạn gửi đề đạt tới tất cả phòng ban để chờ họ đồng ý duyệt và trả lời riêng rẽ. Khi đã được tất cả đồng ý thì bạn tiến hành làm.

Thay vì họp và biểu quyết lấy đa số, thì bạn gửi bản kiến nghị và nhận sự xác nhận đồng ý. Đây là văn hóa đặc thù ở công ty Nhật Bản. Nghe thì có vẻ hợp lý nhưng thật ra nó còn ý nghĩa văn hóa sâu xa đằng sau đấy, mà nếu bạn không hiểu thì về cơ bản là bạn không hiểu LƯU NGHI 流儀 của công ty Nhật Bản, khó mà thăng tiến được.

Thật ra, RINGI không hẳn là lấy sự đồng ý! Nếu thật sự cần tán thành hay biểu quyết thì họ đã họp từ lâu rồi. Người Nhật ai chẳng thích họp. Bởi vì những đề đạt mà cần RINGI thật ra lại chẳng liên quan gì các phòng ban khác mấy. Đúng ra việc bạn bạn làm, hơi đâu mà xin sự đồng ý của các phòng ban khác, mà thật ra, họ cũng đồng ý thôi.

Sở dĩ bạn RINGI là vì một số lý do:
- Thể hiện sự đoàn kết và tôn trọng, yếu tố then chốt trong công ty Nhật Bản
- Nói cho mọi người biết rõ là bạn đang làm gì (có thể họ góp ý kiến)
- Mọi người trong công ty Nhật nên biết người khác đang làm gì để giúp đỡ, đóng góp ý kiến, kinh nghiệm bản thân
- Mọi người biết kinh nghiệm, việc làm của nhau để khi cần có thể hỏi han kinh nghiệm ...

Tức là RINGI là để bộ máy hoạt động trơn tru, mọi người có thể tận dụng, lợi dụng kinh nghiệm của nhau, rút ngắn thời gian và tăng thành quả. So với công ty Âu Mỹ thì công ty Nhật có vẻ là một khối thống nhất hơn, còn công ty Âu Mỹ thường là các cá nhân làm việc độc lập, riêng lẻ, theo một VISION chung. Công ty Nhật Bản coi trọng chủ nghĩa tập thể và sự hài hòa trong công ty, còn công ty Âu Mỹ coi trọng chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa thành quả là trên hết.

Hi vọng bạn đã hiểu thế nào là RINGI.

Vấn đề là, vì sao lại là "BẨM NGHỊ"?

稟議 BẨM NGHỊ.

稟 BẨM ở đây là thưa bẩm, bẩm tấu, bẩm lên. Ví dụ:

Quan: Vì sao bọn dân đen khiếu kiện lắm thế?
Lính: Dạ thưa bẩm, vì chúng nhàn quá ạ.
Quan: Sao chúng nhàn thế?
Lính: Dạ bẩm, vợ quan lấy hết đất của chúng xây lữ quán cả rồi ạ, giờ chúng chỉ bán trà đá qua ngày thôi ạ.

"Bẩm" có nghĩa là "trình bày" nhưng là người dưới trình bày lên người tôn kính.

"Bẩm tấu hoàng thượng, đất nước ta chưa bao giờ thái bình thịnh trị như bây giờ."
"Dạ bẩm quý anh quý chị, xin phép cho em được có đôi nhời."

Còn 議 NGHỊ có nghĩa là nghị luận, bản bạc.

Do đó BẨM NGHỊ là bạn trình bày lên (một cách cung kính) để mọi người nghị bàn và cho ý kiến. Thường là đồng ý chứ nhỉ?

Muốn thăng tiến ở công ty Nhật à? Làm gì hãy la toáng cả lên và báo cáo thật hay vào. Bằng cách "bẩm nghị" mỗi ngày.
Takahashi