"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

[Từ vựng ngữ pháp] SORETOMO "HAY LÀ", VÀ, HOẶC và LIỆT KÊ trong tiếng Nhật

Ví dụ thế này: "Phụ nữ Việt Nam đẹp, hay là tôi bị ảo giác?"

Trước đây S đã có bài Và, Hoặc, Liệt kê trong tiếng Nhật. Đây là phiên bản tiến hóa.

Cũng tương tự bạn có thể hỏi là "Bạn uống trà, hay uống cà phê?".

Trường hợp này sẽ sử dụng:

★それとも SORETOMO: "hay là" cho câu hay vế câu [Sơ cấp/N2]

"Phụ nữ Việt Nam đẹp, HAY LÀ tôi bị ảo giác?"
ベトナム女性は美しいのですか、それとも、私は錯覚(さっかく)しているのですか。

Công thức là: Clause 1、それとも、Clause 2。
Hoặc: Clause 1。それとも、Clause 2。
Đối tượng: Từ vựng ngữ pháp Sơ cấp/JLPT N2

Trường hợp này sau câu 1 dùng dấu chấm hay dấu phẩy cũng được.

Bạn uống trà hay uống cà phê?
お茶を飲みますか。それとも、コーヒーを飲みますか。

Trà hay cà phê thì được?
お茶がいい?それとも、コーヒーがいい?

Tồn tại, hay không tồn tại, đó là vấn đề. (Hamlet)
To be, or not to be, that is the question
生きるべきか、それとも、死ぬべきか、それが問題だ。

Cà phê, hay hồng trà?
コーヒーか、それとも紅茶か

Tóm lại thì SORETOMO dùng trong câu hỏi để yêu cầu người nghe chọn một trong hai hay nhiều lựa chọn. Vậy thôi.

VÀ, HOẶC, HAY, và LIỆT KÊ trong tiếng Nhật

★そして hay そうして: VÀ vế câu

Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017

[Ngữ pháp N2] Vねばならない Bắt buộc phải làm gì (Vなければなならない)

Hướng dẫn sử dụng mẫu ngữ pháp Vねばならない Bắt buộc phải làm gì

Đối tượng: JLPT N2
Liệt kê tại Ngữ pháp JLPT Nx
Ý nghĩa và sắc thái: Giống Vなければならない (bắt buộc phải làm gì)
Vねばならない thì dùng trong hoàn cảnh trang trọng, trịnh trọng hơn.
>>[Ngữ pháp N5, N4] Bắt buộc phải làm gì Vnakerebanaranai AND ALIKE

Bạn có thể tham khảo Các dạng NẾU.

人生は短いから、飲まねばならん。
Vì đời rất ngắn nên bắt buộc phải uống. (Cho nó dài ra!)

Ví dụ:
父は危篤に陥ったので帰国をせねばならない。
Cha đã bị bệnh nặng nên tôi buộc phải về nước.
Giống: 父は危篤に陥ったので帰国をしなければならない。

いい成果を出すには、より能力を磨かねばなりません。
Để tạo ra thành quả tốt thì tôi phải mài giũa năng lực hơn nữa.

Tóm lại thì Vねば=Vなければ

する → せねばならない (bất quy tắc)
来る(くる) → 来ねばならない(こねばならない) (bất quy tắc)
行く → 行かねばならない(いかねばならない

Câu ví dụ 例文

人は食わねばならない。
誰もがいつか死なねばならない。

Lưu ý động từ 死ぬ SHINU thì không phải là 死ねば SHINEBA (nếu chết) mà là 死なねば SHINANEBA nhé. Vì しぬ→しなない→しなねば(しななければ)。

泥棒は捕まえられねばならない。
自制できるようにならねばならない。

みんなさん、この文法をよく理解せねばなりませんね。
Takahashi

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

[Ngữ pháp N4, N3] Mẫu ngữ pháp ーように Uống NHƯ THỂ không còn có ngày mai ...

Trong bài này hướng dẫn các mẫu ngữ pháp liên quan tới よう như ように。Nのように。V可能+ようになる。Vdicようになる。Vdicようにする。ーようにN2。 vân vân.

Tóm lại là tất tần tật về よう hay còn được viết hán tự là 様(よう、さま、dạng), ví dụ như 様子(ようす)、多様な(たような)、様々な(さまざまな)... Chán chết!

Điều bạn nên biết thêm là đây là một DANH TỪ nhưng có thể đóng vai trò TRẠNG TỪ thường ở dạng ように。 Nếu bạn không biết loại từ là gì thì xem LOẠI TỪ.

Ngữ pháp N3: Chúng ta hãy uống NHƯ THỂ không còn có ngày mai.
→ 明日がえいえんに来ないように、お酒を飲もう。

Đơn giản vậy thôi, ように nghĩa là "như thể".

Tỏ ra cao thượng như thể mình chẳng bao giờ làm việc xấu
悪いことをしたことのないように上品ぶる

Nếu bạn học những câu văn vẻ thì thường dễ nhớ và dễ đi vào lòng người hơn nhiều. Chán nhất là học câu cú dở quá.

Ngữ pháp N3: Hình như là ...

雪が降ったようだ。 Hình như là tuyết đã rơi.
かれは、留学生のようです。
そのプロジェクトはダメなようです。

まるで夢のようだ。 Hệt như là giấc mơ.
好きな人と結婚できて、まるで夢のようだ。

Suy ra: まるで悪夢のようだ。 Marude akumu no youda. Hệt như là ác mộng.

Ngữ pháp N4: V可能(dic)+ようになる Bắt đầu có khả năng làm gì

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

[Ngữ pháp JLPT N3] ながらも Dẫu vẫn biết rằng (đời không như là mơ nhưng ...)

Hướng dẫn cách sử dụng ngữ pháp N3 ながら(も)

Cách dùng: Aい+ながら(も) → 小さいながらも
Aな+ながら(も) → 貧乏ながらも
Vstem+ながら(も) → 知りながらも

Nếu là danh từ thì N+でありながら(も)。

Ví dụ: Dẫu vẫn biết rằng giữa ảo mộng và thực tế thường có khoảng cách nhưng thành thế này thì thật không ngờ.


幻想と現実との間にギャップがあるものだと知りながらも、こんなになったとは思いがけなかった。

Nếu nói là "Vẫn biết rằng ..." (bỏ "dẫu" đi ) thì có thể đổi thành 知りながら bỏ も đi chẳng hạn.

Không nhất thiết phải có も nhưng có thì văn vẻ hơn. Quan trọng là phải văn vẻ mới dễ đi vào lòng người, và dễ thao túng người khác để phục vụ lợi ích bản thân được!

Nhân tiện, còn có nhiều ví dụ khác như thế này:

タバコが体に悪いと知りながら、つい吸ってしまう。
Vẫn biết thuốc lá không tốt cho sức khỏe nhưng rồi cũng lại hút.

貧乏ながらも、暖かい我が家。
Nhà chúng ta, dẫu vẫn nghèo nhưng ấm áp.

貧乏ながらも、暖かい我が家に勝るところはない。
Không nơi nào hơn nhà chúng ta - nơi dẫu vẫn nghèo nhưng ấm áp.

あの人は体が小さいながらもなかなか力があるね。
努力していながら、失敗を覚悟している。
Dẫu vẫn đang nỗ lực nhưng hiểu rằng sẽ thất bại.

Đây là một mẫu ngữ pháp quan trọng trong cuộc đời. Kiểu như:

Dẫu biết rằng rượu sẽ phá nát cuộc đời nhưng chúng ta hãy uống như thể chẳng còn có ngày mai. Vì chúng ta không phải là nô lệ và bia chỉ dành cho bọn yếu đuối.
Phải làm vài ngụm đã. Dẫu biết rằng càng uống càng khát, dẫu biết rằng nâng chén tiêu sầu sầu lại sầu thêm ... Hãy uống vào lúc vui và ngày đẹp trời như hôm nay!
Takahashi

Cách dịch ngữ pháp V1ながら、V2

Đây là mẫu ngữ pháp Vながら、- ở trình độ JLPT N4. Phần lớn mọi người dịch sai, thậm chí hiểu sai ngữ pháp này. Đây là mẫu ngữ pháp sơ cấp hay bị dịch sai, hay dịch ẩu một cách đáng ngạc nhiên! ^^

Ngữ pháp này KHÔNG phải là "vừa làm gì (V1), vừa làm gì khác (V2)".

Tôi ví dụ:

① 散歩しながら、人を見ます。

Ở đây có 2 hành động: 散歩する sanpo suru = đi dạo
人を見る hito wo miru = ngắm người

Câu này không phải là (A) "Tôi vừa đi dạo vừa ngắm người" và cũng không phải là (B)"Tôi vừa ngắm người vừa đi dạo" vì hai câu này như nhau.

② 人を見ながら、散歩します。

Câu (2) về cơ bản là khác câu (1), đây không phải hai câu đồng nhất ý nghĩa. Còn (A) và (B) thì gần như đồng nhất ý nghĩa.

Trong bài về ngữ pháp Vながら hãy chú ý tới Point 1, khi bạn "散歩しながら、人を見ます。" có nghĩa là bạn thực hiện hành động "ngắm người" trong lúc đang thực hiện hành động "đi dạo", tức là bạn phải "đi dạo" trước rồi mới "ngắm người".

Cách dịch đúng là thế này:

散歩しながら、人を見ます。
Tôi (luôn) ngắm người trong lúc vừa đang đang đi dạo.

Ví dụ khác
テレビを見ながら、晩ご飯を食べました。
Tôi đã ăn tối trong lúc vừa đang xem ti vi.

Để nói "vừa (làm gì) vừa (làm gì)"

Hãy dùng と同時に(とどうじに) (đồng thời) chẳng hạn:
散歩すると同時に、人を見ます。
散歩するとともに、人を見ます。
散歩するといっしょに、人を見ます。
Takahashi

[Ngữ pháp JLPT N3] Mẫu ngữ pháp ーたものだ NGÀY XƯA THƯỜNG HAY

Hướng dẫn cách sử dụng mẫu ngữ pháp ーた(だ)ものだ hay ーた(だ)ものです

Cách dùng: Quá khứ + ものだ (plain) hay ものです (polite)
Ngữ nghĩa và sắc thái: Tại lớp Cú Mèo

Ví dụ

Dẫu biết là giữa ảo mộng và thực tế luôn có khoảng cách, như thế này thì ...

Hồi nhỏ tôi thường hay tới bể bơi.
子供の頃、よくプールに行ったものだ。
Ngày xưa ở đó thường hay không có nước.
昔、そこに水がなかったものだ。
Vì thế mà tôi thường trông như kẻ ngốc.
だから、僕はバカみたいに見えたものだ。
Thế thôi, nhiễu sự! おしまいだ。うざい!

Ngoài ra ví dụ thế này:
彼女は子供の頃、可愛かったものだ。
彼女は若いとき、美人だったものだ。
彼は昔イケメンだったものだ。

Nhân tiện, thằng bé trong hình trên không hề ngốc chút nào. Vì thế sẽ nói là:

Thời niên thiếu, tôi thường chẳng ngốc tẹo nào.
少年時代、ちっともバカじゃなかったものだ。
Takahashi

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

"Vô duyên" (無縁 MUEN) là gì?

"Vô duyên" trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt thì "vô duyên" có hai nghĩa chính:
(1) Người phụ nữ không có nét duyên dáng, hấp dẫn người khác giới gọi là "vô duyên"
Ví dụ "Mày vô duyên thế thì ma nó thèm lấy" ^^, tức là "ê sắc ế".
(2) Không có duyên phận với nhau, không thành vợ chồng
"Thế là kiếp này mình vô duyên, xin hẹn kiếp sau"

"Vô duyên" (無縁 MUEN) trong tiếng Nhật

Chữ DUYÊN 縁 đọc là EN hoặc là yukari.

Tuy nhiên, chữ 無縁 MUEN (vô duyên) lại có ý nghĩa hơi khác.

病院とは無縁です。 (びょういんとは むえんです)

Câu này nghĩa là "Với bệnh viện thì tôi vô duyên", có nghĩa là "Tôi chẳng bao giờ tới bệnh viện".

Trong tiếng Nhật thì "vô duyên" lại có nghĩa là chẳng bao giờ dính với thứ gì đó.

「お金がない!」とは無縁な人生を送る5つのルール
5 quy tắc để sống cuộc đời chẳng bao giờ phải nói "Tôi không có tiền!"

この金属は錆とは無縁です。
Kim loại này "vô duyên" với gỉ. = Kim loại này không bao giờ bị gỉ.

Hoặc ví dụ: Những kẻ báo thù không bao giờ bị bắt.
Bạn cũng có thể dùng "vô duyên":
逮捕とは無縁な復讐者たち (たいほとは むえんな ふくしゅうしゃたち)

Nhân tiện, đã nói tới chữ DUYÊN thì chúng ta cũng biết câu sau:
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng
有縁千里能相遇、無縁対面不相逢

Đôi khi nói là: Hữu duyên thiên lý lai tương hội, Vô duyên đối diện bất tương phùng
有縁千里来相会、無縁対面不相逢

Tức là có "duyên" thì ngàn dặm cũng có thể gặp nhau được, mà "vô duyên" thì có ngồi đối diện vẫn không "gặp" nhau, không quen nhau.

Đôi khi bị nhầm "bất tương phùng" sang "bất tương đồng" nhưng "bất tương đồng" chắc chắn chỉ là nhầm lẫn.

Nhân tiện, riêng chữ GẶP あう trong tiếng Nhật có tới 4 chữ kanji sau:
会う [AU, hội]
逢う [AU, phùng]
遇う [AU, ngộ]
遭う [AU, tao]

"Tao ngộ" 遭遇(そうぐう) cũng là một động từ 遭遇する SOUGUU SURU nghĩa là "tao ngộ" hay "gặp gỡ".

Vậy phân biệt 4 chữ này thế nào:
会う và 逢う là gặp người khác, trong đó 会う (hội) thường là gặp nhiều người còn 逢う (phùng) là gặp 1 đối 1.

遭う (tao) và 遇う (ngộ) thì không giới hạn ở gặp người (có thể gặp tai nạn, sự cố vv) và thường mang ý là "ngẫu nhiên" tức là "ngẫu nhiên gặp". Trong đó 遭う (tao) thường là gặp thứ không tốt ví dụ gặp tai nạn = 事故に遭う JIKO NI AU.

Ngoài ra, trong Việt ngữ còn có chữ "duyên tao ngộ" tức là "duyên gặp gỡ" nữa.

Đời không như là mơ

Trong bao nhiêu kẻ vô lại bạn lại gặp kẻ vô lại nhất. Trong bao nhiêu công việc, bạn lại chọn công việc tệ hại nhất. Trong bao nhiêu quyết định, bạn lại chọn quyết định xấu nhất. Thế thì "Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, Vô duyên đối diện bất tương phùng" ở đâu?

Đây cũng lại có khi là "duyên", vì trực giác của bạn dở quá. Bạn dùng quá nhiều lý trí, nhưng lý trí lại nửa mùa, không tới đâu, và không phát triển trực giác (vì mâu thuẫn với giáo điều được nhồi sọ từ nhỏ), thành ra toàn quyết định sai. Vì thế, bạn cần bài học cho tỉnh ngộ. Nỗi khổ cứ phải gặp người mình không thích gọi là 怨憎会苦 [おんぞうえく, oán tăng hội khổ]. Nỗi khổ này tới từ mối quan hệ với con người (人間関係 NINGEN KANKEI) và vấn đề chính là sự "ÉP DUYÊN" ^^

Cố mà học cho được bài học chứ biết làm sao. Đôi khi, chúng ta gặp phải "duyên xấu" trong cuộc đời. Trong trường hợp này cũng thường xuất phát từ sự "vô duyên" do người khác giới thiệu tới hay mang tới. Nên bạn cần hỏi cho rõ lai lịch, ai giới thiệu, không thì sẽ nhận cả đống rác từ sự "vô duyên" mà ra.

Để tránh gặp sự "vô duyên" hay người "vô duyên" trong cuộc đời thì hãy chú ý đặc biệt khi có người GIỚI THIỆU một người khác. Vì nhận thức của mỗi người khác nhau. Do đó, không nên căn cứ vào lời người khác để đánh giá người thứ ba (người được giới thiệu) mà phải dùng TRỰC GIÁC.

Chắc chắn bạn sẽ gặp rắc rối nếu tin người giới thiệu hay tin lời (nội dung) giới thiệu. Vì hai người kia có thể có duyên với nhau, chứ chưa chắc bạn và người thứ ba có duyên với nhau. Hơn nữa, nhận thức của mỗi người khác nhau, ngôn từ của mỗi người lại có ý nghĩa khác nhau, nên chỉ có TRỰC GIÁC mới giúp bạn tránh sự vô duyên mà thôi.
Takahashi

Tra từ điển