"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Ba, ngày 30 tháng 8 năm 2016

Mẫu ngữ pháp: Của N, do N và vì N

Ví dụ: Nền chính trị của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Nền chính trị (政治 seiji) và nhân dân (人民 jinmin) ghép với của, do, vì sẽ như sau:

人民の,人民による,人民のための政治

人民の Adj. của nhân dân
人民による (bổ ngữ) do nhân dân
人民のための vì (lợi ích của) nhân dân

Ý nghĩa: Nの "của" là chỉ sự sở hữu.
Nによる "do" là do ai vận hành (do nhân dân quản lý và vận hành).
Nのための  "vì" là vì lợi ích của ai.

Nguồn gốc mẫu ngữ pháp này

Thứ Hai, ngày 29 tháng 8 năm 2016

Bàn về 旬 "tuần"

Chúng ta hay nghe các chữ thượng tuần, trung tuần, hạ tuần. Chữ "tuần" là chữ 旬 này:


上旬 (じょうじゅん) thượng tuần
中旬 (ちゅうじゅん) trung tuần
下旬 (げじゅん) hạ tuần

Chủ Nhật, ngày 28 tháng 8 năm 2016

"Cho anh phát súng tim anh nát"

"Cho anh phát súng tim anh nát, Nhưng anh tin số phận anh còn"
Ngày xưa câu này rất nổi tiếng tới mức phổ biến và chẳng còn ai nhớ tới tác giả, nếu ai biết tác giả thì xin hãy lên tiếng, nếu không thì hãy im lặng mãi mãi.

Bối cảnh câu này là thời bao cấp rất nghèo nhưng ai cũng hút. Một trong các loại thuốc phổ biến thời đó là thuốc lá CAPSTAN. Một loại nổi tiếng khá là HERO. Trong nước cũng có các nhãn hiệu khác nhưng mọi người vẫn chuộng thuốc lá ngoại hơn. Trông như thế này:

Thứ Bảy, ngày 27 tháng 8 năm 2016

Clause (mệnh đề, vế câu) là gì?

Vế câu (clause) bổ nghĩa cho danh từ

Clause là vế câu hay mệnh đề. Clause dùng để làm gì? Tạo một vế câu (mệnh đề) bổ nghĩa cho danh từ chẳng hạn. Ví dụ:

"trang web mà Takahashi đã viết"

"Takahashi đã viết" là một câu bổ nghĩa cho "trang web". Nhưng vì không phải là một câu đơn mà chỉ là một clause bổ nghĩa cho danh từ nên. Trong tiếng Nhật, bổ ngữ đứng trước nên sẽ là:

{Takahashi đã viết} ⇒ ウェブサイト

ウェブサイト [website] là "trang web".

Thông thường nếu nói "Takahashi đã viết" thì là:
Dạng thường: タカハシは書いた。
Dạng lịch sự: タカハシは書きました。

Nhưng đó là câu đơn. Trong clause thì phải thay は bằng が。Luật là thế này:
Luật 1: Trong clause không được dùng trợ từ は ngăn chủ ngữ và vị ngữ mà dùng が ngăn chủ ngữ và vị ngữ.
>>Trợ từ là gì?

Luật 2: Nếu clause bổ nghĩa cho danh từ, động từ phải ở dạng thường (plain form).
Bởi vì động từ mà bổ nghĩa cho danh từ thì phải ở dạng thường.
>>Bài tập dịch: 「痩せない人」が誤解している糖質制限の本質
Do đó:
trang web mà Takahashi đã viết = タカハシが書いた ウェブサイト

Hãy xem sơ đồ này về Clause (vế câu/mệnh đề) bổ nghĩa cho danh từ:

Thay が bằng の

Thứ Sáu, ngày 26 tháng 8 năm 2016

Cách dịch thuật ngữ, từ chuyên môn tiếng Việt sang tiếng Nhật

Dịch Nhật Việt thì tương đối dễ và tôi đã hướng dẫn cách dịch từ chuyên môn, thuật ngữ, từ khó tiếng Nhật sang tiếng Việt trong bài trước. Nhưng dịch từ chuyên môn từ tiếng Việt sang tiếng Nhật thì không dễ nữa vì vốn từ tiếng Nhật của bạn không nhiều lắm. Ngoài ra, chẳng có từ điển Nhật <=> Việt nào chuẩn cả và nếu bạn dựa vào những từ điển không đáng tin thì bạn sẽ là người không đáng tin.

Ít nhất thì hãy dùng những từ điển tin cậy.

Cách dịch từ tiếng Việt sang tiếng Nhật là phải thông qua tiếng Anh vì từ điển Anh <=> Nhật mới tin cậy được.


Các bước dịch từ chuyên môn Việt => tiếng Nhật

Thứ Ba, ngày 23 tháng 8 năm 2016

Vì sao giải Premier League rất ít huấn luyện viên người Anh?

Theo thống kê thì Premier League - giải đấu bóng đá cao nhất Anh quốc với 20 đội tham gia và được coi là giải đấu bóng đá giàu nhất nhờ tiền bản quyền truyền hình - chỉ có 3 huấn luyện viên người Anh. Điều này đặt ra vấn đề liệu rằng các huấn luyện viên người Anh không thực sự giỏi?

Premier League bao giờ cũng quy tụ rất nhiều cầu thủ, huấn luyện viên quốc tế 
nổi tiếng vì lý do ngôn ngữ. Trong ảnh là danh thủ Gianfranco Zola.

Theo tôi, vấn đề lại nằm ở chìa khóa ngôn ngữ. Anh quốc là một trong các nền giáo dục hàng đầu thế giới, thể thao, nhất là bóng đá, phát triển rất mạnh tại đây. Họ là quê hương của bóng đá với giải đấu lâu đời nhất thế giới là cúp FA. Nhiều đội bóng danh tiếng ở châu Âu có tiền thân là do người Anh lập ra. Vì lẽ nào mà lại ít huấn luyện viên giỏi người Anh như vậy?

Thứ Hai, ngày 22 tháng 8 năm 2016

Chia động từ TO BE tiếng Anh

Tại Saromalang tôi đã nói về cách chia động từ TO BE trong tiếng Nhật rồi đúng không nhỉ? Nếu bạn nào chưa nhớ thì hãy ôn lại: Động từ TO BE trong tiếng Nhật nằm ở cuối câu và thường là có 3 dạng (thì hiện tại/tương lai):

1. Dạng lịch sự: ーです。
2. Dạng không lịch sự (suồng sã): ーだ。
3. Dạng viết (văn bản, trang trọng): ーである。

Bạn phải chia thì quá khứ (sẽ thành 1. でした 2. だった 3.であった) hay phủ định thì hiện tại tương lai (1. ではありません 2. ではない/じゃない 3 ではない) hoặc phủ định thì quá khứ (1 ではありませんでした 2 ではなかった/じゃなかった 3 ではなかった) v.v...

Chú ý là động từ TO BE trong tiếng Nhật không hẳn như là động từ "LÀ" của tiếng Việt mà giống động từ TO BE của tiếng Anh. Ví dụ khi dùng với tính từ thì vẫn có thể dùng TO BE cuối câu (để lịch sự chẳng hạn ...).

すし sushi + おいしい ngon = すしは おいしいです。 Sushi (thì) ngon ạ.

 です là động từ TO BE đứng cuối câu để lịch sự mà thôi chứ nếu nói suồng sã thì すしは おいしい。 là đủ rồi.

Nhưng nếu vị ngữ là tính từ な ví dụ あんぜんな (an toàn) thì lại bắt buộc phải có TO BE cuối câu (để còn chia thì):
ここは あんぜんだ。 Chỗ này an toàn.
あそこ あんぜんではなかった。 Chỗ kia (lúc đó đã) không an toàn. (thì quá khứ, phủ định).

Chia động từ TO BE tiếng Anh