"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017

Tuyển sinh lớp Cú Mèo tháng 10 năm 2017

Thông báo lịch một số lớp. Vì thời gian cho tới kỳ thi JLPT tháng 12 cũng không còn mấy nữa và đợt này cũng là đợt bận rộn nên lớp Cú sẽ chỉ học tiếp ngữ pháp, từ vựng. Việc ôn thi các bạn phải tự chủ và tự giác. Đây là lớp để học không phải để luyện thi vì chắc chắn là không đủ thời gian. Với các bạn đang học dở ngữ pháp thì sẽ học dịch tiếp cho tới hết ngữ pháp và sẽ học từ vựng nữa.

CONCEPT: HỌC THEO NHU CẦU, GIỎI THEO NĂNG LỰC

Học kiểu cấp tốc về lâu dài chẳng hữu ích cho bất kỳ ai. Hãy học hiểu và đào sâu suy nghĩ. Tại lớp thì tôi sẽ tập trung chỉ cách TƯ DUY NGÔN NGỮ chứ không chỉ dạy chay tiếng Nhật, sau đó vì không tư duy được nên dịch và hiểu chẳng ra sao cả.

Ví dụ:
Dịch "Ai nhớ chăng ai" hay "Rau ngót" ra tiếng Nhật. Làm sao để dịch ra tiếng Nhật đúng SẮC THÁI? Bạn phải hiểu rõ tiếng Việt và phân tích đúng ngữ nghĩa, sắc thái. Đây không phải là bạn giỏi tiếng Nhật hay không, mà bạn diễn đạt và hiểu tiếng Việt tốt hay không.

Một người không hiểu và diễn đạt tốt tiếng mẹ đẻ sẽ không thể dịch tốt.

Tóm lại thì hãy đọc về Lớp Cú MèoPhương pháp X.

Trên lớp học các bạn sẽ được cung cấp bảng ngữ pháp, từ vựng và có thể là cả cách dịch nữa. Việc các bạn cần làm là dịch câu, đặt câu TRƯỚC KHI TỚI LỚP. Trên lớp sẽ chữa và dành thời gian phân tích, hỏi đáp.

Nếu bạn không thể tự chủ, tự giác trong việc học thì chịu thôi, sẽ chẳng ai giỏi cả! ^^ Lớp học tuyệt đối không phải là liều thuốc tiên giúp bạn giỏi tiếng Nhật, mà chỉ giới thiệu cách học đúng đắn, tư duy đúng đắn về ngôn ngữ mà thôi.

Với các bạn cần học lâu dài thì tham khảo Tìm trường Nhật ngữ VN. Bạn nên tìm chỗ nào gần nhà là tốt nhất.

Đăng ký và học phí

Để đăng ký và xem học phí hãy xem tại Lớp Cú Mèo.

Bạn nào chưa từng đăng ký phải đăng ký form trước, Cú Mèo sẽ hướng dẫn đường đi. Các bạn đã đăng ký trước đây thì hãy gửi email theo như hướng dẫn không cần nộp lại form.

Còn còn một số bạn đã đóng tiền mà chưa đi học cũng hãy liên lạc nhé.

Lịch học (dự kiến)

Lớp N3: Thứ 6 từ 18:30, thứ 7 từ 17:00
Lớp N2: Thứ 2 và thứ 4, từ 18:30

Lớp N1 và dịch: Dựa theo nguyện vọng, sẽ xếp từ thứ 2 tới thứ 5 khoảng 2 buổi/tuần

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

将来有望 TƯƠNG LAI HỮU VỌNG và 燦爛 XÁN LẠN

将来有望 TƯƠNG LAI HỮU VỌNG

しょうらいゆうぼう。 Có tương lai tươi sáng.

Tức là nhất định sẽ 出世する(しゅっせする) = thành công trong đời (xuất thế).

Trong tiếng Nhật thì 出世 nghĩa là "thành công trong đời", người ta cũng hay nói 立身出世(りっしん・しゅっせ) LẬP THÂN - XUẤT THẾ tức là mục tiêu, nhất của của nam giới, trong cuộc đời đó là có thể tự lập và thành công, có danh vọng trong đời.
=> 成功する(せいこうする) thành công, 成功者(せいこうしゃ) người thành công, người thành đạt

Chữ 出世 không hề có nghĩa là "ra đời", "ra đời" thì sẽ nói là 出生する(しゅっせいする) hoặc 生まれる(うまれる) . Nhân tiện UMARERU nghĩa đen là bị đẻ 生む UMU ra ^^.

Mục tiêu của đàn ông Nhật Bản được dạy từ nhỏ là phải LẬP THÂN XUẤT THẾ. Vì thế, ở Nhật mà kiểu đàn ông nhậu nhẹt bê tha không được đánh giá cao và sẽ bị xa lánh. Ăn bám mẹ, ăn bám vợ là TỐI KỊ, ĐẠI KỊ ở Nhật vì sẽ chẳng ai tôn trọng hay chơi cùng cả.

TƯƠNG LAI HỮU VỌNG thì có nghĩa là trong tương lai có triển vọng, tức là có tương lai tươi sáng: Sẽ thành nhân vật quan trọng (VIP = Very Important Person), hoặc thành công (出世 SHUSSE xuất thế), vv.

Vậy trái nghĩa với TƯƠNG LAI HỮU VỌNG (tương lai tươi sáng) là gì?

Có lẽ là 将来絶望 (tương lai tuyệt vọng) chăng?
Ha ha.
=> 絶望する(ぜつぼうする) tuyệt vọng

Tương lai tuyệt vọng nghĩa là sẽ thất bại, hoặc trở thành VUP (Very Unimportant Person) tức là "người rất không quan trọng". Nghĩa là trở thành LOSER.
Tiếng Nhật gọi LOSER là 負け犬 MAKEINU (con chó thua thiệt/kẻ thua cuộc) hoặc 負け組 MAKEGUMI (kẻ thua cuộc).

Nhân tiện chúng ta học luôn câu quán ngữ: NỞ MÀY NỞ MẶT

将来有望な息子を持って私も鼻が高い
Có thằng con trai tương lai tươi sáng nên tôi cũng nở mày nở mặt

鼻が高い(はながたかい) tức là mũi vểnh lên cao vì cảm xúc tự hào, tiếng Việt gọi là "nở mày nở mặt" hay "mát lòng mát dạ". "Nở mày nở mặt" là cảm xúc tự hào "sục sôi" thể hiện ra mặt không giấu nổi hoặc không định giấu giếm. Còn "mát lòng mát dạ" thường là chỉ cảm giác tự hào bên trong chưa chắc đã thể hiện ra. Do đó HANA GA TAKAI là NỞ MÀY NỞ MẶT nhỉ?

Chắc là do dopamin tiết ra nhiều, máu lưu thông tốt nên mặt trở nên hồng hào hơn (do "nhiệt huyết") nên trong có vẻ "nở" ra chăng? Hay ít ra, người trong cuộc có cảm giác là mặt mình nở ra ^^

燦爛 XÁN LẠN

Tươi sáng rực rỡ. Rực sáng.
光り輝くさま。また、華やかで美しいさま。
Ví dụ:
燦爛と光る
燦爛たる光を放つ
燦爛たる烈日の下に燃え上る

XÁN LẠN hay SÁNG LẠNG, SÁNG LÃNG, SÁNG LẠN?

Tất nhiên là "xán lạn". Ví dụ "tương lai xán lạn" tức là "tương lai tươi sáng rực rỡ". Một thế giới mới xán lạn.

Sở dĩ người ta nhầm sang "sáng lạng" vì họ đã bị mất gốc ngôn ngữ hoặc không học nguồn gốc từ vựng tử tế. Bản thân chữ SÁNG trong Hán Việt là chữ 創 SÁNG thì có nghĩa là SÁNG TẠO tức là nghĩ ra, tạo ra cái mới, không hề có nghãi là tươi sáng gì cả.

Cách sử dụng đúng: Tương lai xán lạn. Một thế giới mới xán lạn.

Tóm lại thì hôm nay chúng ta học vài từ:
将来有望 Tương lai hữu vọng
燦爛 Xán lạn
出世する Xuất thế
立身出世 Lập thân xuất thế
成功する Thành công
絶望する Tuyệt vọng
鼻が高い HANA GA TAKAI
負け犬 MAKEINU
負け組 MAKEGUMI
Takahashi

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

Cách sử dụng 諸 CHƯ và 各 CÁC

しょ。CHƯ

かく。CÁC.

諸 CHƯ có nghĩa là "các" còn 各 CÁC có nghĩa là "mỗi":

諸国(しょこく) các nước (chư quốc)
諸問題(しょもんだい) các vấn đề (chư vấn đề)
諸侯(しょこう) chư hầu

諸君(しょくん) CHƯ QUÂN
Có nghĩa là "các em" ví dụ giáo viên gọi số đông học sinh, từ vị thế bên trên một cách trang trọng.

Sở dĩ gọi là "chư quân" vì gọi "anatagata" thì quá nhún nhường, gọi "anatatachi" thì lại bằng vai phải lứa. Thường thì gọi người trẻ hơn hay học sinh là 君(きみ) [quân]. Trường hợp này gọi "các em" nên dùng CHƯ QUÂN.

Chữ 諸 CHƯ rất quan trọng trong việc cấu tạo số nhiều (plural) trong tiếng Nhật và có thể dùng đại trà.

Ví dụ: 日本諸島(にほんしょとう) NHẬT BẢN CHƯ ĐẢO = các đảo Nhật Bản

各 CÁC thì có nghĩa là MỖI:

各国(かっこく) mỗi nước
各人(かくじん) mỗi người
各日(かくじつ) mỗi ngày
各自(かくじ) mỗi người, tự bản thân mỗi người
各地(かくち) mỗi vùng
各位(かくい) mỗi vị
=> 関係者各位 (gửi tới) mỗi vị liên quan / các vị có liên quan

Bài tập: Dịch ra tiếng Nhật (bôi highlight để nhìn chữ màu trắng)
1. Các quyền lợi của người sử dụng => 利用者の権利
2. Ở trường này thì mỗi phòng học đều có máy lạnh. => この学校では教室に全てエアコンが付いている。
3. Sách học thì các em hãy tự mỗi người chuẩn bị lấy. => テキストは諸君が各自で用意してください。
Takahashi

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

Chuyện về 伝 TRUYỀN/TRUYỆN

TRUYỀN/TRUYỆN

Trước đây đã có bài về "Truyện" hay "Chuyện" thì thật ra đều từ chữ này mà ra. Chữ này bên trái là bộ Nhân đứng (人) bên phải là chữ 云 VÂN (云々=うんぬん vân vân).
=> Phân biệt với 雲(くも) là VÂN (đám mây).

Nghĩa của chữ này là "truyện" hay "truyền tải, truyền đạt".

伝える(つたえる)
Truyền tải, truyền đạt, truyền đi. => Tha động từ

伝わる(つたわる)
(Cái gì) được truyền tải, truyền đạt, truyền đi => Tự động từ

伝う(つたう)
Men theo. Bám theo. => 石を伝って川を渡る
=> 手伝う(てつだう) giúp đỡ, giúp một tay

伝熱(でんねつ) truyền nhiệt, dẫn nhiệt

伝達(でんたつ) truyền đạt

伝説(でんせつ) truyền thuyết

自伝(じでん) tự truyện

列伝(れつでん) liệt truyện

伝記(でんき) truyện ký

伝奇(でんき) truyền kỳ

武勇伝
ぶゆうでん。 VŨ DŨNG TRUYỆN.
(1) Anh hùng truyện = câu chuyện kể về (thời) anh hùng
(2) Chuyện yêng hùng, thói yêng hùng.

VŨ 武 là "võ, võ thuật, vũ lực"
DŨNG 勇 là dũng khí, can đảm, anh dũng.

Bài tập: "Thói yêng hùng" nghĩa là gì?

Lợi thế của việc học kanji bằng âm hán việt là "ăn gian" được vô số từ vựng. Bạn nghĩ tôi học từ vựng bằng cách nào? Học từng từ thì ăn cám chắc. Trong cuộc đời nếu muốn thành công phải luôn "cheat" (ăn gian). Tôi có hàng đống "cheat sheet" đây. ^^
Takahashi

Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2017

Sổ tay tư duy từ vựng

Vì sao người học giỏi tiếng Anh cũng thường học giỏi tiếng Nhật?

Vì họ đã dành thời gian và nỗ lực gấp đôi người khác?
Vì não họ to gấp đôi người khác?
Vì họ sử dụng não gấp đôi người khác?

Thật khó có thể nghĩ như vậy. Vì thời nay có ai còn học tập mấy đâu ^^ Học tập chăm chỉ, cơ bắp không mấy đảm bảo thành công. Dù bạn học toán, vật lý, tiếng Anh, tiếng Nhật hay môn nào đi nữa, thì điều quan trọng nhất là CÁCH HỌC, CÁCH TƯ DUY. Trong cuộc sống người đã học giỏi thì họ còn học giỏi nhiều môn, vừa giỏi toán, lý lại vừa giỏi tiếng Nhật.

Vì họ sử dụng não hiệu quả hơn người khác? Một phần. Nhưng theo tôi cách tư duy khác nhau. Sở dĩ bạn giỏi tiếng Anh là vì bạn tư duy tốt, hơn là thật sự bạn học gạo và nhồi nhét vào đầu. Chính vì thế khi học thêm ngôn ngữ thứ hai bạn cũng dễ giỏi hơn nhiều.

Giáo dục nói chung và giáo dục ngôn ngữ nói riêng mà không học dựa trên cách học, cách tư duy chỉ nhồi nhét kiến thức thì chắc chắn sẽ thất bại. Riêng ngôn ngữ thì còn phải chú trọng việc SO SÁNH giữa cách ngôn ngữ với nhau đặc biệt SO SÁNH SẮC THÁI các mẫu ngữ pháp tương đồng.

Để làm điều này thì bước đầu tiên và quan trọng nhất là GIỎI NGÔN NGỮ MẸ ĐẺ. Những người viết tiếng Việt dở thì thường học ngoại ngữ cũng dở theo. Điều đó không có nghĩa là bạn sẽ dở mãi mà bạn phải tập viết nhiều. Khả năng tiếng Nhật thật sự không phải là giao tiếp mà là khả năng viết tiếng Nhật. Và để viết tốt thì bạn cần VỐN TỪ, mà muốn có vốn từ thì phải học cách tư duy từ vựng đúng đắn.

Sơ đồ đề xuất của lớp Cú Mèo về học từ vựng

Vì thế, khi học tiếng Nhật - tại lớp Cú Mèo Saromalang hay tại bất kỳ lớp nào - bạn cần có SỔ TAY TƯ DUY TỪ VỰNG, sổ tay vật lý thật sự, bằng giấy và viết lên được. Vì nhiều bạn sẽ mở note trong điện thoại thì lại chẳng bao giờ xem lại chỉ có điện thoại nhớ được còn bản thân chẳng nhớ được thêm từ nào có khi còn quên luôn cả note nằm ở đâu. Chẳng có gì gây sao nhãng hơn điện thoại cả.

"Sổ tay tư duy từ vựng" tại lớp Cú Mèo

Khi học tại lớp Cú Mèo bắt buộc phải có "Sổ tay tư duy từ vựng". Không có nghĩa là bạn chép chính tả từ vựng vào đây vì danh sách ngữ pháp và danh sách từ vựng được in riêng rồi. Sổ tay chỉ là để ghi cách tư duy từ vựng ví dụ theo sơ đồ trên.

Ngoài ra, sổ tay là để học cách tư duy, còn về lâu dài thì phải biết cách tra từ điển. Sổ tay tư duy từ vựng cũng giúp ích cho bạn trong việc học cách dịch đúng sang tiếng Việt.

Đấy là việc học ngoại ngữ và ngôn ngữ. Còn trong cuộc đời càng có nhiều sổ tay thường sẽ càng thành công hơn, không phải vì sau này bán sổ tay kiếm được tiền mà vì bạn TƯ DUY tốt hơn. Giờ còn ai dùng não tư duy nữa đâu, người ta tư duy bằng sổ tay hết rồi.
Takahashi

Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2017

Vẫn lại "NHỚ": Phân biệt 懐かしい、恋しい、愛しい

Trong bài trước tôi đã nói về cách dịch I miss you nhưng có rất nhiều từ để diễn tả nỗi nhớ.

Hôm nay chúng ta phân biệt 3 từ này:
①懐かしい NATSUKASHII [hoài]
②恋しい KOISHII [luyến]
③愛しい ITOSHII [ái]

懐かしい NATSUKASHII

Chúng cũng là "nhớ" nhưng khác nhau thế nào về SẮC THÁI?

Ví dụ: 日本生活が懐かしい。 Tôi nhớ cuộc sống Nhật Bản.
ところでうそです。実は懐かしくないわ。 ^^

NATSUKASHII nghĩa là nhớ về ngày xưa, nhớ về quá khứ, về những thứ đã xảy ra.

Ví dụ chúng ta có thể nói: このビールは懐かしい。 Bia này làm tôi nhớ (về ngày xưa tôi từng uống) quá.

Tức là trước đây bạn từng làm như thế, đã có kinh nghiệm làm thế. => Xem かつて

Tóm lại là bạn BỒI HỒI LƯU LUYẾN về quá khứ thì sẽ dùng NATSUKASHII.

=> 日本ドラマを見るたびに大学時代を懐かしく思う。

Tức là cảm xúc NOSTALGIC.

Ai nhớ chăng ai

恋しい KOISHII

Chữ LUYẾN, thường chỉ cảm xúc "nhớ nhung". "Nhớ nhung" là cảm giác bạn không ở cạnh ai đó và nhớ người đó tới mức cảm thấy khó chịu.

恋しい人
別れた人が恋しい

Bạn cũng có thể nói cho sự vật 寒くなると火が恋しい vì bạn đang khó chịu vì cái lạnh thì bạn sẽ "nhớ nhung" ngọn lửa.

愛しい ITOSHII

ITOSHII thì lại là cảm giác "thương nhớ, nhớ thương" thường dùng với người yêu hay người khác giới.
愛しい人 người mà tôi thương nhớ
愛しい君へ Gửi em người mà tôi thương nhớ / người thân thương

Bạn cảm thấy "thương" ai đó vì họ quá đáng thương cũng dùng ITOSHII = 気の毒 KINODOKU.

=> 哀れな境遇を愛しく思う = Tôi thấy thương cho cảnh ngộ đáng thương

Làm sao để nhớ các từ này?

しい là để tạo ra tính từ thôi.

恋 KOI là tình yêu nam nữ thì thêm SHII vào để thành tính từ NHỚ NHUNG.

懐かしい NATSUKASHII => NATSU mùa hè, KA nào đó => mùa hè nào đó tươi đẹp thì nhớ thôi, về quá khứ tươi đẹp, mà quá khứ bao giờ chẳng tươi đẹp nhỉ? Đây chỉ là bịa đặt để cho dễ nhớ.

Còn ITOSHII?

糸 ITO = sợi chỉ, sợi dây liên kết chính là tình cảm, nên ITOSHII là thương nhớ thôi.

Tất cả chỉ là bịa đặt!
Vì thế học tiếng Nhật như JOKER thì có vẻ 将来有望(しょうらいゆうぼう) TƯƠNG LAI HỮU VỌNG.

Bài tập: Vận dụng kiến thức trong bài này dịch các câu sau sang tiếng Nhật.
1. Ngày buồn, tháng nhớ, năm thương. / Ngày buồn, tháng nhớ, năm mong.
2. Thương ai nhớ ai
3. (Nâng cao) Ai nhớ chăng ai
Takahashi

Phân biệt "định kiến" và "thành kiến"

"Định kiến" và "thành kiến" khác nhau như thế nào?

"Định kiến" là dạng quan điểm đã được hình thành sẵn về mặt xã hội, tôn giáo vv của một tập đoàn đối với một tập đoàn khác. Thông thường chúng ta sử dụng dưới dạng cụm từ "định kiến xã hội" tức là quan điểm, ý kiến đã cố định của xã hội đối với một đối tượng nào đó.

Ví dụ: Định kiến xã hội đối với người bị bệnh tâm thần

Như vậy "định kiến" là quan điểm, ý kiến đã HÌNH THÀNH TRƯỚC trải nghiệm thực tế. Bạn không cần trải nghiệm đã có sẵn định kiến như thế, thường là do xã hội, tập đoàn tôn giáo vv nhồi sọ sẵn.

Còn "thành kiến" thì lại hơi khác: THÔNG QUA TRẢI NGHIỆM của chính bạn mà hình thành ý kiến, quan điểm về một tập thể, nhóm người nào đó.

Tóm lại thì "định kiến" là thứ có trước cả trải nghiệm thực tế, còn "thành kiến" là thứ mà có sau trải nghiệm thực tế của cá nhân bạn (có thể là nhiều lần với nhiều đối tượng).

Ví dụ: Từ những trải nghiệm không mấy vui vẻ, cậu ấy đã bắt đầu có thành kiến với người Nhật rằng họ lịch sự một cách giả tạo.

Về chữ hán thì định kiến là 定見 còn thành kiến là 成見 nhưng chữ 成見 không sử dụng như từ ngữ trong tiếng Nhật.

Ngoài ra còn có THIÊN KIẾN (偏見=へんけん) tức là cách nhìn thiên lệch, lệch về một phía.

"Định kiến" hay "thành kiến" thường dẫn đến PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ:

差別
さべつ。[Sai biệt] = Phân biệt đối xử, DISCRIMINATION

Trong tiếng Nhật thì:
Định kiến = 先入観(せんにゅうかん)
Thành kiến = 抵抗感(ていこうかん)?違和感(いわかん)?

Bài tập: Tìm hiểu ý nghĩa các từ sau
偏見(へんけん) [thiên kiến]
定見(ていけん) [định kiến]
抵抗感(ていこうかん) [đề kháng cảm]
違和感(いわかん) [vi hòa cảm]
固定観念(こていかんねん) [cố định quan niệm]
固着観念(こちゃくかんねん) [cố trước quan niệm]
執着(しゅうちゃく) [chấp trước]
思い込み(おもいこみ)