"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

"Trâm anh thế phiệt" chữ hán là gì?

簪纓世閥
Trâm anh thế phiệt

簪纓世胄
Trâm anh thế trụ

簪纓世裔
Trâm anh thế duệ

簪纓世族
Trâm anh thế tộc

簪纓世家
Trâm anh thế gia

Ví dụ

Cô ấy có dòng dõi trâm anh thế phiệt.
Anh ta là con nhà trâm anh thế tộc.

Giải thích

簪 TRÂM là cây trâm cài tóc. => Tiếng Nhật là かんざし(簪)。
Lưu ý: Đây là chữ TRÂM (cây trâm) chứ không phải chữ CHÂM 針 tức là cái kim, cây kim => 針 hari cái kim (may áo vv), 針灸 harikyuu châm cứu, 方針 houshin phương châm.

纓 ANH là dải mũ (dải vải cài vào mũ để trang trí).
"Trâm anh" 簪纓 là chỉ người cao sang quyền quý.

Kanzashi (cây trâm)

世 THẾ là "đời", 閥 PHIỆT là những người có quyền thế, quyền lực (財閥 tài phiệt, tiếng Nhật đọc là zaibatsu, tiếng Hàn đọc là chaebol).

Thế phiệt là người có quyền thế truyền từ đời trước.

Do đó, trâm anh thế phiệt chỉ chung những người cao sang quyền quý có nhiều quyền lực. Chẳng phải là tiền sẽ mua được quyền lực, và dùng quyền lực thì lại có tiền theo đúng phong cách hậu duệ - quan hệ - tiền tệ hay sao?

Vậy 世胄 THẾ TRỤ là như thế nào? Thế vẫn là đời trước còn Trụ là mũ đánh trận như trong chữ GIÁP TRỤ 甲冑 (áo giáp và mũ trụ). Tức là người có công trạng đời trước chăng? Tức là con cái của những bậc khai quốc công thần chẳng hạn.
=> 冑=かぶと

Kabuto = mũ trụ

世裔 THẾ DUỆ = hậu duệ của đời trước (có công lao công trạng và đang được hưởng lộc)
世族 THẾ TỘC = gia tộc của đời trước (quan lại có thế lực lớn)
世家 THẾ GIA = nhà, gia đình của đời trước

Tóm lại là nếu cha ông là bậc khai quốc công thần, đại quan vv thì con cháu sẽ kế thừa mà hưởng lộc vạn hộ vậy thôi. Đây gọi là "trâm anh thế phiệt".
Takahashi

"Hồn tiêu phách tán"? "Hồn xiêu phách lạc"?

Câu chuyện về "hồn" và "phách":

魂魄
こんぱく
HỒN PHÁCH

Đều gồm có chữ QUỶ 鬼, chữ Hồn thì bên trái là chữ 云 VÂN (vân vân 云々=うんぬん), còn chữ Phách bên trái là chữ BẠCH 白 (trắng).

"Hồn" là phần KHÍ 気 nâng đỡ về tinh thần (spirit, 精神=せいしん).
"Phách" là phần KHÍ 気 nâng đỡ về thể xác (body, 身体=しんたい).

Khí ở đây có thể hiểu là "sinh lực" (sức sống). => Chữ 気

Đây là các khái niệm của Đạo Giáo 道教。

Hồn tiêu phách tán = 魂消魄散
Hồn phiêu phách lạc = 魂漂魄落

Tiêu 消 là biến mất => 消える kieru
Tán 散 là rơi rụng mất => 花が散る hana ga chiru
Phiêu 漂 là bay đi => 漂う tadayou trôi nổi (hương thơm, âm nhạc)
Lạc 落 là rơi => 落ちる ochiru

Trong tiếng Việt thì cũng nói là "hồn xiêu phách tán" thì chữ "xiêu" có lẽ là đọc chệch của "tiêu" hay là "phiêu".

"Hồn tiêu phách tán" hay "hồn xiêu phách lạc" nghĩa là gì?

Nó giống câu "hồn vía lên mây" trong tiếng Việt, nghĩa là sợ hãi quá mức tới nỗi dường như mất tinh thần không suy nghĩ được nên làm gì nữa, và thể xác cũng đông cứng lại.

"Hồn" đã biến mất tiêu nên không thể nghĩ là nên làm gì, "phách" đã lạc mất, rơi rụng mất nên thân thể tê cứng không chuyển động được.

"Vía" tiếng Việt chính là tương ứng với "phách". "Hồn vía lên mây" tức là cả hồn và vía đều bay đi mất, tức là tê cứng cả tinh thần lẫn thể xác vì sợ hãi điều gì đó thường bất ngờ xảy ra.

Tóm lại thì "hồn" và "phách" ("vía") là gì?

Khi có ai đó sắp ra đi người ta sẽ hay gọi hồn về kiểu thế này:

"Ới ba hồn bảy vía ông X ơi ông ở đâu thì về với vợ với con!"
Đàn ông thì ba hồn bảy vía, đàn bà thì ba hồn chín vía. Đàn bà nhiều vía hơn đàn ông. Vậy thì ý nghĩa là gì?

Hồn sẽ điều khiển, chi phối tinh thần còn phách (vía) chi phối thể xác. Tôi nghĩ là phách (vía) tương ứng với dinh dưỡng bạn nạp vào, còn hồn tương ứng với sự học tập.

Tóm lại thì một con người gồm có 7 phần là thực phẩm ăn vào, 3 phần là học tập ý chí trong cuộc đời. Với đàn bà thì thực phẩm quan trọng hơn, nên họ có tới 9 vía, phần học tập của họ không quan trọng bằng.

Giải thích thế có đủ khoa học không nhỉ ^^
>>Tinh thần

Vì thế, dinh dưỡng là rất quan trọng trong cuộc đời. Bạn cần khôn ngoan về dinh dưỡng. Đồng thời, cũng phải học tập và rèn luyện để có tinh thần tốt.

Không thể sống trong sợ hãi!
Takahashi

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

本業 "Bản nghiệp" và 副業 "Phó nghiệp"

本業 "Bản nghiệp"? 副業 "Phó nghiệp"?

Cũng là từ gốc hán tự thôi mà nghe chẳng quen mấy nhỉ. "Bản nghiệp" là gì và "phó nghiệp" là gì?

Nghiệp 業 ở đây có nghĩa là "nghề", trong nghĩa "nghề nghiệp". Tất nhiên "nghiệp" còn có trong nghĩa đại nghiệp, sự nghiệp, nghiệp chướng. Chữ này thường đọc là ぎょう như 工業=こうぎょう công nghiệp、産業=さんぎょう sản nghiệp.

Nhưng trong ngôn ngữ từ thời Đường khi người Nhật học Phật giáo từ China thì còn đọc là ごう ví dụ như 自業自得(じごうじとく) "tự nghiệp tự đắc" tức là "tự làm tự chịu", cách nói dân dã của 自己責任(じこせきにん) "tự kỷ trách nhiệm" = tự chịu trách nhiệm.

本 "bản" là chính, còn 副 "phó" là phụ, cấp phó, thứ hai.

本業 "Bản nghiệp" = nghề chính, nghề tay phải
副業 "Phó nghiệp" = nghề phụ, nghề tay trái

Tóm lại trong tiếng Việt ta sẽ nói "nghề giáo là nghề chính, nghề chăn heo là nghề tay trái". Vì có nghề tay trái nên chúng ta nói "nghề tay phải của tôi là nghề giáo". Và chúng ta cũng nói "chăn heo là nghề phụ của tôi". Whatsoever! Who cares!

Cách đọc thì 本業 đọc là ほんぎょう thì không ai thắc mắc. Nhưng riêng chữ "phó" 副 phải đọc là ふく FUKU. Ví dụ 副社長(ふくしゃちょう) nghĩa là "phó giám đốc".

Phàm là cấp "phó" thì đều thêm 副  vào đằng trước là được.

Nhân nói về chữ 本 "bản"

Nhiều nghĩa phết!
本能 bản năng = chức năng gốc
本格 bản cách = chính hiệu, nguyên bản, nguyên gốc => 日本本格の味
ビール一本 beer nhất bản ("một li bia") = kiểu như "em ơi bia" của người Nhật (câu "Em ơi! Bia" (エムオイ!ビア! Emu oi! Bia!) là câu mà người Nhật sử dụng thành thạo nhất và là câu mà nhiều người Nhật biết nhất trong tiếng Việt, bên cạnh các từ như "xe ôm" và "bia ôm".)

本 "hon" là để đếm vật dài. 一本の傘 một cây dù

本 = sách. Sách cũng gọi là "hon", chứ không dùng từ 冊 (sách), vì 冊 (satsu, sách) lại dùng để đếm quyển, đếm cuốn.

本屋 hon'ya (bản ốc) thì là hiệu sách nhưng 本店 honten (bản điếm) lại không phải là "tiệm sách, cửa hàng sách" nữa mà lại là "trụ sở chính (headquarter)". Damn phết!

Nhưng 書店(しょてん、thư điếm) thì lại là cửa hàng sách!

本 cũng đọc là "bổn" ví dụ "bổn tọa" (tôi), "bổn nhân" (tôi), "bổn quan" (quan này, tức là tôi - người đang làm quan và đang nói chuyện với bọn thảo dân các người.)

À, phải nói thêm về chữ 本人 honnin (bản nhân) trong tiếng Nhật. "Bản nhân" thì không phải là "tôi" mà là bản thân người đó, bản thân người nào đó.

夢が叶うかどうかは本人の意思次第だ。
Ước mơ có thành hiện thực hay không hoàn toàn là do ý chí của người đó.

Tầm quan trọng của "bản nghiệp" và "phó nghiệp" trong cuộc sống

"Bản nghiệp" là món ăn chính, "phó nghiệp" là món ăn phụ. Bản nghiệp để kiếm tiền sinh sống, phó nghiệp là để cải thiện hoặc làm vì niềm vui. Đôi khi phó nghiệp lại giúp bạn làm nên đại nghiệp, và bạn bỏ bản nghiệp thì phó nghiệp lại thành bản nghiệp. Vì bản nghiệp cũ bạn đã có kinh nghiệm và kỹ năng bỏ thì tiếc nên bạn lại làm cho vui, thành ra nó lại là phó nghiệp.

Ví dụ bản nghiệp là nghề giáo, phó nghiệp là chăn heo. Bỏ nghề giáo để đi chăn heo thì chăn heo thành bản nghiệp.

Nhân tiện thì tôi không có "bản nghiệp" mà lại có rất nhiều "phó nghiệp". Lưu ý là không phải phó nghiệp là bạn làm không chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp không liên quan tới "bản" hay "phó", việc gì tôi làm cũng rất chuyên nghiệp, kể cả ăn chơi sa đọa. Việc gì cũng phải làm thật bài bản, theo đúng trình tự, theo đúng lễ nghĩa chứ nhỉ?

Quan điểm của tôi về "nghiệp" là làm thật nhiều phó nghiệp một cách chuyên nghiệp. Như thế an toàn hơn và thực hiện được lý tưởng "tôi làm việc tôi thích, tôi thích việc tôi làm".
Takahashi

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

"Bán thân bất toại" 半身不遂 hay 半身不随 "bán thân bất tùy"?

"Bán thân bất toại" nghĩa là gì?

Đây là chứng "liệt nửa người" = 片麻痺(へんまひ、かたまひ、hemiplegia). Liệt nửa người là liệt nửa người trái hay liệt người người phải, chứ không phải liệt nửa trên hay liệt nửa dưới, cũng không phải liệt mặt trước hay liệt mặt sau. Có lẽ do cấu tạo cơ thể là não trái điều khiển nửa bên phải, não phải điều khiển nữa bên trái nhỉ?

Nếu bạn muốn kích thích bán cầu não phải thì hãy dùng tay trái nhiều vào. Mà bán cầu não phải là bán cầu não dùng để sáng tạo, nên bạn nên sử dụng tay trái thì tốt hơn.

Cũng không thể liệt nửa dưới, vì thế thì thường nói là "bại liệt". Cũng không thể liệt nửa trên, vì nửa trên vì nếu đã liệt nửa trên thì chắc không nói là "bán thân bất toại" mà sẽ nói là "toàn thân bất toại" luôn phỏng ạ? Nói cách khác là "đời sống thực vật".

Vì sao lại là "Bán thân bất toại" 半身不遂? Chữ "bất toại" là không còn hoạt động, cử động theo ý chí nữa, không hoành thành được động tác, chữ "toại" ở đây là hoàn thành, ví dụ như toại nguyện.

Ví dụ "giết người không thành" là 殺人未遂 satsujin misui, sất nhân bất toại.

Nhưng "bán thân bất toại" là trong tiếng Việt hay tiếng China thôi. Còn trong tiếng Nhật thì lại là:

半身不随 "bán thân bất tùy" => tiếng Nhật

Nửa người không còn đi theo (tùy) ý muốn của bạn nữa. Chữ "tùy" là "tùy thuộc", "tùy theo", "tùy tùng" nghĩa là đi theo.

Trong tiếng Nhật cũng dùng chữ TÙY:
随筆=ずいひつ TÙY BÚT = đoạn văn viết theo hứng, không phải theo bố cục chặt chẽ, hay để nghị luận vấn đề rõ ràng

随分=ずいぶん TÙY PHẦN = rất, nhiều => 随分暖かくなったね。

Chữ TOẠI 遂 và chữ TÙY 随 "tình cờ" cũng có trong ca từ Tây Du Ký.
人间事常难遂人愿,且看明月又有几回圆。
nhân gian sự thường nan toại nhân nguyện, thả khán minh nguyệt hựu hữu kỷ hồi viên.
Việc nhân gian thường khó mà chiều theo ý con người,
Thoáng chốc đã thấy trăng sáng lại mấy lần tròn.
Tóm lại thì trong tiếng Nhật "bán thân bất toại" thì sẽ là 半身不随 "bán thân bất tùy" đọc là はんしんふずい. Ý nghĩa là "liệt nửa người".

Giải thích như trên bạn có toại nguyện hay không thì tùy.
Takahashi

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017

Cách gọi bậc quân vương vua chúa (tham khảo)

Có bạn nào thắc mắc cách gọi quân vương vua chúa trong tiếng Anh và tiếng Nhật?

My lord = đại vương, 大王
Your grace = điện hạ, 殿下
Your majesty = thánh thượng, 聖上
Your highness = bệ hạ, 陛下

Nếu không gọi quân vương vua chúa mà gọi tôn kính thì là 閣下 (các hạ, kakka), tự xưng thì có thể là 小生 (tiểu sinh, shousei).

Nếu gọi "quý ngài", "quý bà" thì dùng ~殿 (dono, chữ "điện" trong 宮殿 cung điện, 殿下 điện hạ).

Vua chúa khôn ngoan gọi là 名君 MEIKUN (minh quân), vua chúa ngu dốt gọi là 暗君 ANKUN (ám quân).

Ngoài ra còn có 暴君 BOUKUN (bạo quân). Bạo quân là vua chúa bạo ngược, làm dân chúng khổ sở.

Người đứng đầu triều đại phong kiến cha truyền con nối gọi chung là 君主 KUNSHU (quân chủ) ví dụ chế độ quân chủ là 君主制 KUNSHUSEI (quân chủ chế).

Nhân tiện, "cha truyền con nối" gọi là 世襲 SESHUU (thế tập). Cần phân biệt "thế tập" và "thế tục" 世俗。

"Sổ tay tư duy từ vựng"

Tại lớp Cú Mèo Saromalang khi học tiếng Nhật quy định là bạn phải có SỔ TAY TƯ DUY từ vựng. Chúng ta sẽ học theo nhóm từ, học các từ liên quan thì sẽ vui hơn, mà "vui là chính, học là phụ" mới có thể duy trì lâu dài và bất chiến tự nhiên thành được đúng không nhỉ?

Ngoài việc học ngữ pháp và dịch cho đúng thì học từ vựng là vui nhất khi học ngoại ngữ nói chung và tiếng Nhật nói riêng. Và để học được phải có SỔ TAY TƯ DUY TỪ VỰNG. Đây là mục yêu cầu bắt buộc khi học tại lớp Cú Mèo từ nay trở đi. Sổ phải trắng, đẹp, dễ viết và có phẩm cách của sổ tay tư duy từ vựng.

Huấn luyện viên sẽ kiểm tra sổ tay của các bạn xem có đủ tiêu chuẩn chưa trước khi bắt đầu lớp học. Nếu không hợp yêu cầu có thể sẽ yêu cầu thay bằng sổ khác.
Takahashi

Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

不思議 "bất tư nghị" 不可思議 "bất khả tư nghị" và 不可解 "bất khả giải"

Mỗi ngày học vài từ tiếng Nhật thú vị cũng là cách tốt để giữ động lực học tiếng Nhật.

ĐỘNG LỰC = MOTIVATION モチベーション

Năng lực, IQ, bullshit không quan trọng bằng động lực. Ước mơ chỉ thành hiện thực nếu bạn có động lực. Học từ vựng nên là một trong các động lực để học tiếng Nhật.

不思議 "bất tư nghị" FUSHIGI

"Tư" là suy nghĩ, "Nghị" là nghị luận, suy xét. Khi nói về thứ gì "bất tư nghị" thì nghĩa là nó "kỳ lạ".

不思議な出来事
成功も不思議でない

Lưu ý là nó khác với 変な hen-na vì hen-na không phải là "kỳ lạ" mà là "kỳ quái, kỳ quặc".

不可思議 "bất khả tư nghị"

Thứ gì mà bạn "không thể lý giải nổi", vì "bất khả" nghĩa là không thể làm được.

不可解な言動

Ý nghĩa: 名・形動]理解しようとしても理解できないこと。また、そのさま。

不可解 "bất khả giải"

Nghĩa là "không thể hiểu được". Chữ 解 GIẢI là 解る wakaru tức là hiểu, hay hiểu được.

Ví dụ: 人生は不可解だ。 Cuộc đời không thể hiểu được. ↔ 不条理 Bất điều lý

人生は不可解なり

Bài tập áp dụng:
Câu 1: Tiếng Việt
Giải thích "kỳ lạ" có nghĩa là gì trong tiếng Việt.

Câu 2: Dịch câu sau ra tiếng Nhật.
Cuộc đời kỳ lạ tới mức có những hiện tượng không thể lý giải nổi nên tôi xin kết luận rằng bản chất của cuộc đời là không thể hiểu được. ^^

Chúc dịch vui!
Takahashi

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

Sự "phi lý" trong cuộc đời: 不条理 "bất điều lý" và 理不尽 "lý bất tận"

Các bạn học tiếng Nhật thì sẽ gặp hai từ này:

不条理 "bất điều lý" ふじょうり
理不尽 "lý bất tận" りふじん

Chúng đều có nghĩa là "phi lý", nhưng hai sắc thái lại khác nhau, do đó mà cách dùng khác nhau:

Bất điều lý

1 筋道が通らないこと。道理に合わないこと。また、そのさま。「不条理な話」
2 実存主義の用語。人生に何の意義も見いだせない人間存在の絶望的状況。カミュの不条理の哲学によって知られる。
《名・ダナ》事柄の筋道が立たないこと。 「人生の不条理 」

Ví dụ 人生の不条理 sự phi lý trong cuộc đời ("bất điều lý" của "nhân sinh")
不条理な話 = câu chuyện phi lý

"Bất điều lý" là nói về tính chất phi lý một cách khách quan của sự vật sự việc.

Lý bất tận

[名・形動]道理をつくさないこと。道理に合わないこと。また、そのさま。「理不尽な要求」「理不尽な扱い」
物事の筋道が通らないこと。道理にあわないこと。また、そのさま。無理無体。 「 -な要求」 「 -な仕打ち」
"Lý bất tận" nói về sự phi lý trong thái độ, cách thức đối xử, yêu cầu, ...
Có thể dịch ra là "quá vô lý, quá mức phi lý".

理不尽な要求 = yêu cầu phi lý, yêu cầu vô lý

Bài tập: Hãy phân tích ngữ nghĩa của 不条理 "bất điều lý" và 理不尽 "lý bất tận".

Sự phi lý trong cuộc đời = 人生の不条理