Hôm nay, tôi giải thích thêm. Từ vựng chẳng là gì, cho tới khi bạn sử dụng nó trong câu. Và khi ở trong câu, thì chúng ta phân biệt một chút:
Trường hợp 1: Nó là chủ đề hay chủ thể hành động (hoặc tính chất): Đứng trước は hay が.
Trường hợp 2: Nếu đứng ở vị ngữ:
- Nó là từ kết thúc câu, hay:
- Nó ở dạng nối câu (tức là còn thứ khác sau nó)
Danh từ N
Ví dụ danh từ (N). Một danh từ là chủ đề hay chủ thể hành động thì sẽ có dạng:
Nは/が・・・ = N wa/ga ...
Nó có thể là は hay là が tùy theo từng hoàn cảnh, thậm chí là có 2 danh từ và dùng kết hợp は/が. Saroma Lang chắc chắn đã cung cấp cho bạn cái nhìn toàn cảnh về trợ từ tiếng Nhật rồi.
Còn nếu nó đứng ở trong vị ngữ, thì hoặc là nó kết thúc câu, hoặc là nó nối câu.
Kết thúc câu:
- N desu (dạng lịch sự)
- N da (dạng suồng sã)
- N dearu (dạng viết)
Nối câu:
- N de (dạng lịch sự)
- N de (dạng suồng sã, giống dạng lịch sự)
- N deari (dạng viết)
Tính từ A-i (Aい)
Nếu là tính từ A-i:Kết thúc câu:
- A-i desu (dạng lịch sự)
- A-i (dạng suồng sã, dạng viết)
- A{i}kute ~
- A{i}ku ~ (phổ biến ở dạng viết và trang trọng hơn)
Tính từ A-na (Aな)
Chia giống như danh từ (N).Kết thúc câu:
- A{na} desu (dạng lịch sự)
- A{na} da (dạng suồng sã)
- A{na} dearu (dạng viết)
- A{na} de
- A{na} deari (phổ biến ở dạng viết và trang trọng hơn)
