Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

Cách giải thích mới về chữ "má" trong "chó má, thuế má, giấy má"

 Trước đây đã có nỗ lực giải thích về chữ "má" trong "chó má", kiểu như tiếng Tày gọi con chó là "tu ma", nên "má" có lẽ là tiếng Tày mà ra.

Nhưng cách giải thích này có vấn đề, vậy còn "thuế má" và "giấy má" thì thế nào, không lẽ cũng liên quan đến "chó"?

"Thuế má" có lẽ cũng không phải là đọc chệch của "thuế khóa" như một số giả định, vì cách đọc quá khác nhau, và cũng lại không giải thích được cho "chó má" và "giấy má".

Nhiều khả năng chữ "má" trong ba từ này là giống nhau:

  • Chỉ những thứ phiền nhiễu, không muốn động vào nhưng phải động vào để giải quyết
  • Âm tiết đầu tiên đều là dấu sắc

Từ đó, chúng ta thấy "má" có thể là một dạng âm láy dùng cho các âm có dấu sắc, chỉ những thứ phiền phức, muốn tránh xa.

Hãy bàn về sắc thái của "chó má, thuế má và giấy má":

  • Chó má: Không chỉ chó mà chỉ người, có cách cư xử như chó, ví dụ "bọn chó má", rất không muốn động vào nhưng không tránh được.
  • Thuế má: Xử lý sự vụ thuế và rất phiền hà, nhiêu khê, nhất là một nơi mà quan chỉ chuyên tham nhũng và hành dân.
  • Giấy má: Vấn đề giấy tờ chẳng vui vẻ và không muốn giải quyết. Đây không phải là giấy chứng nhận sở hữu nhà, hay tương tự, mà là vấn đề tính công, kế toán vv cực kỳ đau đầu, không làm thì lại không xong.

Như vậy có thể thấy, "má" chỉ các vấn đề ác và phiền, phải chăng nó là từ chữ MA (魔) trong MA QUỶ (魔鬼) mà ra?

Nếu là vấn đề "ma" thì rõ ràng chúng ta muốn tránh càng xa càng tốt, nhưng vẫn phải làm thì biết làm sao, chắc chắn sẽ bị ám quẻ rồi.

Vì thế, chúng ta gọi là bọn "chó ma", "thuế ma", "giấy ma" và chửi thề như thế, nhưng thế thì không thuận miệng lắm, vì sau dấu sắc mà lại dấu không thì khó phát âm.

Từ láy thường bao giờ cũng cùng loại dấu thanh: luyên thuyên, lằng nhằng, lải nhải vv.

Do đó, nó sẽ được nói thành "chó má", "thuế má", "giấy má". Trong từ điển chữ Tôm sẽ được ký âm chữ Hán như sau:

chó má, thuế má, giấy má = 狗'魔°、税魔°、紙'魔°

Thế nhé!

Takahashi

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

"Thụ thụ" trong "thụ thụ bất thân" nghĩa là gì?

nam nữ thụ thụ bất thân = 男女授受不親: nam nữ đưa và nhận đồ không được tiếp xúc da thịt với nhau (bất thân)

Trong cụm này thì có hai chữ "thụ" nhưng ý nghĩa khác nhau, ngược nhau hay đúng ra là một cặp đối nhau.

授 thụ = đưa cho (có bộ "thủ" 手 tức là tay), ví dụ giáo thụ, truyền thụ
受 thụ = nhận lấy (không có bộ "thủ"), ví dụ thụ động, thụ hưởng

"thụ thụ" 授受 tức là "đưa và nhận".
"bất thân" 不親 tức là "không tiếp xúc nhau, không chạm nhau".

Vậy chữ thụ nào đứng trước? Phải là 授 thụ vì phải có người đưa rồi mới nhận được, đây là thứ tự thời gian theo đúng luật nhân quả.

Nhưng trong từ điển chữ Tôm thì không dễ để đưa ra chữ "thụ" đúng vì trong tiếng Việt hai "thụ" y chang nhau.

Với tâm huyết làm từ điển chữ Tôm (chữ Nôm mới) chuẩn xác, chúng ta cần một thuật toán để đưa ra quyết định đúng. Chúng ta, dùng não người mà vật chất chủ yếu là bã đậu, có thể suy luận như trên, nhưng với từ điển chữ Tôm thì hai chữ "thụ" chỉ là một mà thôi.

Để cho dễ thì chúng ta đánh số các chữ "thụ": nam nữ thụ (1) thụ (2) bất thân

thụ (1) = 授
thụ (2) = 受

Ví dụ ta lưu cả hai chữ vào cơ sở dữ liệu với thứ tự 受 trước 授, và không có câu trên tham chiếu (reference), thì cả hai chữ thụ đều cho ra 受.

Bây giờ, nếu ta lưu cả hai chữ thụ với tham chiếu là câu trên thì sao?

受 => Reference: nam nữ thụ thụ bất thân
授 => Reference: nam nữ thụ thụ bất thân

Cả "thụ (1)" lẫn "thụ (2)" đều sẽ thấy tham chiếu ở 受 ngang với tham chiếu ở 授 nhưng do 受 xếp trước (chỉ là tình cờ) nên đều cho ra chữ 受.

Nếu tham chiếu như sau:

受 => Reference: [trống]
授 => Reference: nam nữ thụ thụ bất thân

Nếu thế thì cả thụ (1) và thụ (2) đều chỉ thấy tham chiếu ở 授 nên đều cho ra kết quả là 授.

Cách giải quyết: Gán thụ (1) cho 授 và thụ (2) cho 受

Sở dĩ kết quả không như ý là bởi vì máy tính nhìn hai "thụ" giống hệt nhau, chứ không thể (hay chưa thể) suy luận như chúng ta được. Chúng ta cũng không suy luận ra nếu chỉ nhìn tiếng Việt, chẳng qua là chúng ta biết trước 男女授受不親, tức là cũng gọi là chẳng thông minh gì mấy.

Do đó, chúng ta phải giảng làm sao để máy tính hiểu được. Vậy thì, nếu chúng ta giảng rằng 受 phải là chữ thụ thứ hai, tức thụ (2), thì phải xóa chữ thụ (1) đi, nên tham chiếu sẽ như sau:

受 => Reference: nam nữ X thụ bất thân

Tức là 受 chính là chữ "thụ" đi ngay trước "bất thân", chứ không phải "thụ" đi sau "nam nữ".

授 cũng được giảng như vậy:
授 => Reference: nam nữ thụ X bất thân

Như vậy, khi xét thụ (1) chúng ta có "nữ thụ", "thu thụ", thì chúng ta chỉ thấy tham chiếu "nữ thụ" ở 授, nên sẽ chọn 授 này.

Khi xét thụ (2) chúng ta có "thụ thụ", "thụ bất" và chỉ tìm thấy tham chiếu "thụ bất" trong 受.

Cuối cùng cho ra kết quả đúng trên từ điển chữ Tôm.

Ngoài ra, có thể không cần dùng X để thay thế mà chỉ cần biến đổi đi một chút để không tìm được tham chiếu "nữ thụ", "thụ thụ" hay "thụ bất" nên có thể dùng dấu ngoặc chẳng hạn:

受 => Reference: nam nữ [thụ] thụ bất thân
授 => Reference: nam nữ thụ [thụ] bất thân

Như thế vẫn đọc đúng được mà từ điển vẫn chọn đúng.
Takahashi

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2020

"Trẩu" nghĩa là gì?

"Trẻ trâu": Những người hoạt động trên mạng Internet thông qua tính năng bình luận để thể hiện quan điểm của bản thân và "ném đá" (đả kích, phỉ báng) người khác thường là với ngôn từ thô tục, không lịch sự, thể hiện kiến thức hay nhân sinh quan, thế giới quan nông cạn.

"Trẻ trâu" đọc lái lại thì là "trẩu tre" hay gọi tắt là "trẩu". Từ đồng nghĩa có "anh hùng bàn phím".

"Trẻ trâu" là cách gọi khinh miệt, hàm ý là giáo dưỡng thấp chỉ như là trẻ chăn trâu thất học. Tuy vậy, rõ ràng coi thường trẻ chăn trâu cũng lại là sự nông cạn vì đa số trẻ chăn trâu lại có nhân cách tốt. Tức là, những người khinh miệt người khác là "trẻ trâu" cũng có thể chính là "trẻ trâu".

Từ đó, để cho có vẻ "lịch sự" hơn, người ta chế ra từ "sửu nhi" là cách nói chữ hán của "trẻ trâu" (cách nói của người Việt với nhau không liên quan tới tiếng Trung).

Trong từ điển chữ Tôm, các chữ trên được viết như sau:

trẻ trâu: 児'牛"
trẩu tre: 丑°児°
sửu nhi: 丑児

Mặc dù gọi là "trẻ" nhưng những người bị gắn mác "trẻ trâu" có thể không trẻ, là trung niên hoặc người già, chỉ là bị ví rằng giáo dưỡng chỉ ngang với trẻ chăn trâu. Bản thân người gọi người khác là "trẻ trâu" có thể cũng chính là "trẻ trâu" và thậm chí giáo dưỡng còn thấp hơn.

Dịch "trẩu/trẻ trâu" ra tiếng Nhật

Trẩu/trẻ trâu/sửu nhi/anh hùng bàn phím: ネット右翼(ネットうよく) hay gọi tắt là ネットウヨ ネトウヨ (netouyo)

"Netto" (hay neto) là Internet, uyoku (hay gọi tắt uyo) là cánh hữu. Đây là những người hoạt động chỉ trên Internet, theo cánh hữu bài ngoại. Nên nhớ là cánh hữu cầm quyền ở Nhật Bản, đồng thời cũng là tư bản, tài phiệt và thao túng được truyền thông.

Tức là, nói thẳng ra, "trẻ trâu" chỉ là những người bị chăn dắt và không có tiếng nói trong xã hội thực, nên chỉ có thể lên mạng thể hiện "chính kiến", thường là những tư tưởng, kiến thức bị nhồi sọ và sùng bái lãnh đạo và tư bản.

Tức là họ không có cuộc sống tốt mà luôn luôn phải "cống hiến" cho tư bản, nên chỉ có thời gian lên mạng tranh cãi, phỉ báng lẫn nhau.

Như vậy, rõ ràng trẻ trâu là người sống ở thành phố, nhà không có điều kiện, trải nghiệm ít, chứ không phải là "trẻ chăn trâu ở nông thôn" như nghĩa gốc mà từ này nhắm tới.

"Trẻ trâu", những đối tượng mà từ này ám chỉ, hay bản thân từ này, chính là sản phẩm của xã hội tư bản công nghiệp, nơi con người làm việc như nô lệ hay máy móc trong các công xưởng, nhà máy, không có tiếng nói, không có thời gian để sống cuộc sống tự do mà bản thân mong muốn.

Nói cách khác, "trẻ trâu" hiểu là "nạn nhân của xã hội tư bản hoang dã" hay đúng ra gọi là xã hội nửa XXX (mị dân) nửa tư bản.
Takahashi

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2020

"Láu cá" có gốc hán việt không?

Láu cá:
- Thông minh lanh lợi và hay bày trò lừa người khác
- láu và có nhiều mẹo vặt
Ví dụ: giở trò láu cá, thằng bé rất láu cá
Đồng nghĩa: láu tôm láu cá

"Láu cá" không phải từ gốc hán việt.

Đang khi bị đọc chệch thành "láo cá" nhưng cách đọc này không đúng (thường là ở miền nam do viết sai theo cách phát âm của "láu" và "láo" gần giống nhau).

"Láu tôm láu cá" là cách nói nhấn mạnh hay văn vẻ của "láu cá", kiểu như "lý do lý trấu" (đúng ra phải là "lý gio lý trấu"), chứ không thật sự có nghĩa "tôm cá" gì ở đây.

Chữ "láu" thì là láu lỉnh, còn "cá" thì là gì? Có phải là cá trong tôm cá không?

Tôi nghĩ là không phải là "tôm cá" mà là trong "cá cược", "cá độ". Tức là thông minh lanh lợi và hay bày trò đưa người khác vào một trò cá cược nào đó mà mình chắc chắn thắng nhưng tỏ ra không biết, để người khác tưởng là 50/50.

Ví dụ: Hãy coi chừng nếu nó đố bạn ăn tiền vì nó rất láu cá.

Vì thường thì nó chắc chắn sẽ thắng, nhưng tỏ ra như là 50/50 để dụ bạn. Thậm chí nó còn làm bạn cảm thấy phần thắng của mình lớn hơn để bạn tích cực tham gia. Như thế mới gọi là láu cá
Takahashi

"Tháu cáy" có gốc hán việt không?

Tháu cáy: Dùng thủ đoạn ma mãnh để gian lận hoặc trục lợi
Ví dụ: Tay chơi bài tháu cáy
Gốc hán việt của "tháu cáy": 偸鶏 (thâu kê, tức là trộm gà)

Nguồn gốc và cách đọc của "tháu cáy"

"Tháu cáy" là 偸鶏 (thâu kê, tức là trộm gà) và là cách đọc của người Quảng Đông (gọi tắt là người Quảng) của từ này.

偸鶏 = tau1 gai1 (Cantonese)

Vì sao lại là "trộm gà"?

Vì ngày xưa gà là tài sản giá trị, giống như là xe cộ ngày nay vậy. Hoặc giống như cún cảnh mà người ta nuôi. Vì thế, bọn trộm xe hay trộm chó luôn bị khinh ghét và đề phòng. Để trộm được gà thì phải ma mãnh. Sau này từ này trở thành tính từ chỉ sự "tháu cáy".

Hiện nay có một số cách giải thích bị sai rằng "tháu cáy" là 趕鶏 (giản thể: 赶鸡), "cản kê" tức là "đuổi gà". Trước hết thì "đuổi gà" không xấu hay không xấu đến thế, cùng lắm chỉ là trêu trọc gà mà thôi. Ngay cả chủ gà cũng có thể phải đuổi gà kia mà?

Hơn nữa, 趕鶏 không đọc được thành "tháu cáy":

趕鶏 = gon2 gai1 (Cantonese)

Do đó, "tháu cáy" không thể là "đuổi gà" được, mà phải là "trộm gà".

Trong từ điển chữ Tôm, do là cách đọc ngoại lai, "tháu cáy" được phiên thành 偸°鶏°. Chữ này thể hiện nguồn gốc chữ hán của "tháu cáy và các từ gốc tiếng Quảng khác như "sủi cảo", "sủi dìn", "há cảo", "màn thầu", "vằn thắn" vv cũng như thế.

Thật đúng là:
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh
言'郷'拱'拾'久‟長'、
買'楽'也'得'壱'幾'鼓'更
Takahashi

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2020

Ra mắt từ điển chữ Tôm

Chữ Tôm là gì?

Từ điển chữ Tôm tức là từ điển chữ Nôm mới, chỉ dùng các chữ Hán đã có sẵn để ký âm tiếng Việt, nói cách khác, là chuyển mọi âm tiết tiếng Nhật sang chữ tượng hình. Nói nhiều thì dài dòng căn tự, nên đây là ví dụ minh họa:

Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
光‟彩‟底'水'印'天'、
城建'煙'碧'岳'晒'影'黄'

Từ điển dịch hai câu trong Truyện Kiều sang chữ kanji (hán tự) như trên, với ý nghĩa tương đương. Trong câu trên thì có "long lanh" là một từ láy, trong từ điển chữ Tôm, thì từ láy thường được viết theo dạng 〇‟〇‟ tức là dấu nháy kép ngược, và những chữ viết kiểu này thường tùy theo ngữ cảnh, cụm từ mà nó tạo ra mà thay đổi cách đọc, ví dụ:
dở ẹc 拙'極‟, lạ hoắc 異'極‟

Tất nhiên là để làm được như trên tức là dịch một cách tự động thì phải có CƠ SỞ DỮ LIỆU, tôi đã xây dựng cơ sở dữ liệu này. Ví dụ "bóng vàng" phải là bóng màu vàng, chứ không phải bóng của kim loại vàng. Nhưng nếu mà "nghìn vàng" thì lại phải là kim loại vàng, tức là 金':

Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
心'此'送'風'東有'便、
千'金'請'送'到'岳'燕`

Từ điển cũng có thể dịch các bài thơ gốc Hán sang tiếng Hán tương ứng:

Cao nguyên thủy xuất sơn hà cải,
Chiến địa phong lai thảo mộc tinh
高原水出山河改、
戦地風来草木腥

Tức là: Nước chảy ra từ cao nguyên làm thay đổi núi sông, Gió từ chiến địa thổi tới làm cây cỏ bốc mùi tanh

Trong trường hợp này, chữ "mộc tinh" dễ bị phiên thành 木星 tức là Sao Mộc theo thuật toán. Vậy phải làm sao? Khi chọn chữ "tinh" (trường hợp này là 腥 tức là tanh), nếu chỉ xét chữ ngay cạnh là "mộc" thì sẽ chọn sai, nên phải xét cả chữ trước đó, do đó, phải viết thành thuật toán để làm điều này, để tăng tính chuyển đúng cho từ điển chữ Tôm.

Dưới đây là một số đoạn thơ viết bằng chữ Tôm, tức là chữ Nôm mới.

Viết lại Truyện Kiều bằng chữ Nôm mới tự động bằng từ điển chữ Tôm

Nguồn gốc chữ "tài xế" trong tiếng Việt

Chữ "tài xế" có nguồn gốc Hán Việt không?

Gốc Hán Việt của "tài xế" là 大車 [đại xa]. "Tài xế" là cách đọc theo tiếng Quảng Đông (vùng Lưỡng Quảng, Trung Quốc) của "đại xa" do người gốc Hoa mang vào Việt Nam (đặc biệt là miền nam). Trong bài này, tôi sẽ nói về nguồn gốc của chữ "tài xế", vì sao 大車 [đại xa] lại là "tài xế".

Về chữ "xế" thì đây là cách đọc tiếng Quảng của chữ 車 XA.
大車
Cantonese (Jyutping): daai6 ce1
1. cart; big car
2. respectful term for an engine drive or the chief engineer of a ship
3. (Mainland China Hokkien) automobile; motor car; sedan

Chỗ này thì không ai thắc mắc cả. Ví dụ "xế hộp" nghĩa là "xe hơi" (xe ô tô).

Về chữ "tài" thì có ý kiến cho rằng, đó là chữ ĐÀ (舵), tức là "cầm lái" vì:
1. Tài xế nghĩa là người lái xe, nên có lẽ "tài" là "lái"
2. 舵手 [đà thủ] nghĩa là người cầm lái tàu thuyền, ví dụ 偉大舵手 [vĩ đại đà thủ] nghĩa là người cầm lái vĩ đại.
舵工 [đà công] nghĩa là người lái thuyền, thợ lái thuyền.

Vì thế, lái xe sẽ là ĐÀ XA? Điều này không hợp lý, vì ĐÀ là bánh lái tàu thuyền, không dùng cho xe cộ. Trong tiếng Trung, lái xe là 司機 TƯ CƠ.

Hơn nữa, ĐÀ đọc là  to4 trong tiếng Quảng, không phải "tài".

ĐÀ XA là suy luận sai lầm, còn ĐẠI XA 大車 mới đúng là "tài xế".

大車 ĐẠI XA nghĩa là gì?