"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2017

Bài tập dịch ngữ pháp lớp Cú Mèo N3 20-50

Hãy dùng tài liệu đã phát và nhớ lại bài giảng trên lớp để dịch các câu sau sang tiếng Nhật cho đúng ngữ nghĩa, ngữ pháp và sắc thái. Con số thể hiện số hiệu mẫu ngữ pháp trong tài liệu đã phát.

20
昨日仕事で疲れ切って眠れないほどだった。

実るほど頭を垂れる稲穂かな <ngạn ngữ Nhật Bản>

21
井の中の蛙ほど大海を知らぬ者はいない

彼女ほど美人はいない。

22
いくら努力してもなかなか上達しない。

どんなに水を飲んでものどがまた乾いてしまう。

たとえどんなに働いても生活が楽にならない。

23
ここ数年景気が悪くなる一方だ
国民の生活は苦しくなる一方だ

革命の思想は国民の中にますます広がっていっている。

24
父は自分に厳しい一方で、他人には優しい。

25
不思議なことに、誰もがいないのに、机の上に食べかけのケーキが置いてある。

仕事をやりかけているのでパーティーに行けなさそうだ。

26
性格から言うと、彼はこの仕事に相応しいと思う。

この成績から言えば、東大は無理だろう。

27
いつものご飯の代わりにパンを食べた。

週末は遊びに行く代わりに、うちで休みたい。

入院した社長に代わって会議に出席した。

28
決して東大の夢をあきらめない。

絶対東大に合格する。

絶対に許せない。

必ず夢は叶います。

29
この小説は長すぎて、読み切れない

努力したからといって、必ず成功するとは言い切れない

「こちらの商品はただいま売り切れです。」

30
一度きりの人生を大切に生きることだ

彼とは一回話したっきり連絡がなかった。

31
今日は非常に忙しくて、疲れ切ってしまった。

徹夜して長い小説を読み切った

お金を使い切ったので、稼ぐよりほかない

32
帰国は来週だったっけ

君の誕生日は何月だっけ

パーティーの事、話したっけ

33
愛情があるからこそ、しかるんだ。

明日こそ勉強するぞ!

こちらこそご無沙汰しております。」

苦悩があってこそ人生は完全なものとなる。

34
お金を大切にすること。

勝手に人の部屋に入らないこと。

35
東大に行きたいなら、毎日努力を惜しまずに勉強することだ。

いつまでも元気でいたいのなら、健康的な食品を食べることだ。

Còn, còn nữa, còn mãi!

Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2017

Bài tập dịch ngữ pháp lớp Cú Mèo Dịch Thuật 50-80

Bài tập dịch lớp Cú Mèo.

51
この湖は釣りを禁止することになっている

明日から、ベトナム赴任になった
赴任(ふにん): được cử đi làm việc (thường ở nước ngoài)

52
入院しただけで「働けない」ということにはならない

53
レポートは書いたことは書いたが、インターネットからの丸写しに過ぎない。
丸写し(まるうつし): sao chép y chang

54
あんなひどいレストランは二度と行くまい

そんな人はあるまい

56
このバッグは値段手ごろなら、デザイン可愛い。

57
彼は嵐もかまわず外に出た。

58
言葉が全く分からないものだから、友だちができない。

59
第一印象を悪くするものではない

こんなあつい本は一日で読み切るものではない

60
君の文章にはどうも不自然なものがある

61
金持ちの彼は、そんなにお金を欲するものか

62
うつ病を完治できるものなら、完治したい。

63
一生懸命努力したものの、成功なんかしたことはない。

64
旅行したい。もっともお金があったらね。

65
もう少しで車にひかれるところだった。

危うく階段で倒れるところだったよ。

66
彼女は美人というより、むしろ愛想がいい人だ。

人生は美しい夢なのか。いや、むしろとんでもない悪夢かもしれない。

67
人生は寂しいものだ。誰かを愛しないではいられない

おかしくて笑わずにはいられない

68
やってみないことにはできるかどうかは言い切れない。

69
ご多用恐縮でございますが
お忙しい、失礼いたします
お忙しい中を、失礼いたします

70
やる気はなくはないが、あいつと一緒なら嫌だ。

できなくはないが、面倒だ。

71
長い人生だから、なにもそれほど先の事を真剣に考えなくてもいいんじゃないか。

72
人間は失敗から学ぶものだ。なお、つらい失敗ほどよく学べるものだ。

73
相手の気持ちがわかるには、相手の立場に立たねばならない

74
作業にあたって安全確認をした。

薬を飲むにあたり、副作用を確認せねばならない。

75
彼の期待に反して、彼女は別の男と結婚した。

76
成功か失敗かは運命にほかならない

77
人間は失敗に限らず、成功も恐れるものだ。

78
真冬はカキの土手鍋に限る

牡蠣(カキ)の土手鍋(どてなべ)

79
遠足しようと早起きした今日に限って嵐が来たので、計画が台無しになった。

80
成功するかしないかにかかわらず、普段からコツコツ努力するのが大事だ。

Chúc ngon miệng. À không, chúc dịch ngon nhé.
Takahashi

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

"He rode to a woman’s sigh."

"He rode to a woman’s sigh.
For she was his secret treasure,
She was his shame and his bliss."
"Chàng cưỡi ngựa lên đường vì tiếng thở dài của một người phụ nữ.
Vì nàng là báu vật bí mật của chàng,
Nàng là nỗi hổ thẹn và niềm hạnh phúc tối thượng của chàng."

Bài "Hands of gold" (Đôi bàn tay bằng vàng) trong Game of Thrones, vốn viết về mối tình của Tyrion Lannister với Shae nhưng đột nhiên xuất hiện ở tập 4 mùa thứ 7 có thể là ám chỉ về hiệp sỹ Jaime và Cersei.

Game of Thrones là loạt phim truyền hình trên HBO có đông đảo người hâm mộ nhờ triệt để tính bạo lực, sự khát máu, ái tình và sự phản bội, oan oan tương báo với những màn trả thù tàn độc, rất đúng bản chất và khát khao của con người. Chắc chẳng có tập nào trong phim mà không có ai đó chết thảm, còn nhân dân chỉ bị coi như cỏ rác, là bàn đạp để các bậc quân vương, lãnh chúa bước lên nấc thang quyền lực. Sở dĩ bộ phim có sức lôi cuốn lớn lao trên phạm vi toàn cầu vì khát khao thầm kín của nhân dân đang rên xiết lầm than dưới các chế độ hủ bại cai trị bởi những hôn quân chắc chắn không phải gì khác ngoài bạo lực, tắm máu và đồ sát. Bạo lực là niềm vui lớn nhất của nhân dân lầm than. Hãy cho họ một đại nghĩa (greater cause) để họ chiến đấu, hi sinh và tham gia cuộc Đại Đồ Sát. Để họ thoát thai khỏi thân phận hèn mọn và tính tư lợi nhỏ nhen, để có thể chiến đấu và xả thân nơi sa trường - nơi mà mọi người đều bình đẳng bất kể giai cấp, sang hèn. Vì điều quan trọng không phải là bạn chết như thế nào, mà là chiến đấu vì ai và vì lý tưởng gì.

Game of Thrones được chế tác dựa trên tiểu thuyết "A Song of Fire and Ice" (Băng hỏa trường ca, Bài ca về lửa và băng tuyết). Đây là một trong những bộ phim đáng xem nhất trong thời gian gần đây.

Bài "Hands of gold" trong tập 4 mùa 7 Game of Thrones:


Cùng bài trên nhưng lặp trong khoảng 1 tiếng:


Phiên bản cover:


Lời bài hát
Hands of Gold

He rode through the streets of the city,
Down from his hill on high,
O’er the wynds and the steps and the cobbles, (Over the winds and the steps and the cobbles)
He rode to a woman’s sigh.
For she was his secret treasure,
She was his shame and his bliss.
And a chain and a keep are nothing,
Compared to a woman's kiss
For hands of gold are always cold,
But a woman’s hands are warm.

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2017

Bài tập lớp Cú Mèo N3: Dịch bài hát 残酷な天使のテーゼ

Bài hát: 残酷な天使のテーゼ (zankokuna tenshi no teeze)
テーゼ là [these, tiếng Đức], tạm dịch là "định đề".
Tên bài hát tạm dịch là "Định đề thiên sứ tàn nhẫn".

Here we go:



Từ vựng mới

テーゼ định đề [Đức: these] => mệnh đề đã được định sẵn [triết học]
蒼い=青い xanh [thương]
叩く(たたく) đập, gõ
ただ(只) chỉ
微笑む(ほほえむ) mỉm cười, cười nụ
見つめる(みつめる) nhìn chằm chằm
運命(うんめい) số phận [vận mệnh]
いたいけな ngây ngô
瞳(ひとみ) con ngươi, đồng tử [đồng]
もとめる(求める) tìm kiếm, tìm tòi
夢中(むちゅう)sự mải mê, say sưa => 夢中で、夢中になる
遥か(はるか) xa lắc, xa tít
羽根(はね)đôi cánh
窓辺(まどべ) khung cửa sổ
やがて sắp sửa
飛び立つ(とびたつ) bay đi
ほとばしる(迸る) tuôn trào, phun trào
パトス xúc cảm, cảm xúc chi phối nhất thời [Hi Lạp: pathos]
裏切る(うらぎる) phản bội
揺りかご cái nôi (ru em bé ngủ)
首筋(くびすじ) gáy, vai gáy
閉じこめる(とじこめる)nhốt lại
抱く(だく) ôm
抱きしめる(だきしめる) ôm chặt
バイブル kinh thánh [bible]
(光を)放つ(はなつ) phát ra (ánh sáng)
つむぐ(紡ぐ) dệt sợi
女神(めがみ) nữ thần

Lời bài hát

残酷な天使のテーゼ

歌手:高橋洋子
作詞:及川眠子
作曲:佐藤英敏

残酷な天使のように 少年よ神話になれ

蒼い風がいま 胸のドアを叩いても
私だけをただ見つめて微笑んでるあなた
そっとふれるもの もとめることに夢中で
運命さえまだ知らない いたいけな瞳

だけどいつか気付くでしょう その背中には
遥か未来めざすための羽根があること

残酷な天使のテーゼ 窓辺からやがて飛び立つ
ほとばしる熱いパトスで 思い出を裏切るなら
この宇宙(そら)を抱いて輝く 少年よ神話になれ

ずっと眠ってる 私の愛の揺りかご
あなただけが夢の使者に呼ばれる朝がくる
細い首筋を 月あかりが映してる
世界中の時を止めて閉じこめたいけど

もしもふたり逢えたことに意味があるなら
私はそう 自由を知るためのバイブル

残酷な天使のテーゼ 悲しみがそしてはじまる
抱きしめた命のかたち その夢に目覚めたとき
誰よりも光を放つ 少年よ神話になれ

人は愛をつむぎながら歴史をつくる
女神なんてなれないまま 私は生きる

残酷な天使のテーゼ 窓辺からやがて飛び立つ
ほとばしる熱いパトスで 思い出を裏切るなら
この宇宙を抱いて輝く 少年よ神話になれ

Bài tập lớp Cú Mèo N3 - Ngữ pháp 11 - 20

Dịch ra tiếng Việt, vận dụng các mẫu ngữ pháp đã học từ 11 tới 20.

1 ほど
Hôm qua nằm mơ gặp ma sợ gần chết.

2 ほど
Càng gần mực càng đen. Càng gần đèn càng cháy! ^^

3
Chắc chắn là ba sắp sửa về nhà rồi.
sắp sửa = sorosoro

4
Hôm nay tôi (cảm thấy) hơi mệt nên tôi có thể được anh cho phép về sớm không ạ?

5
Việc anh ta nói thì khó mà có thể tha thứ được.

6
thường hay cúp học đi chơi lắm.
(khuynh hướng tiêu cực)

7
Tôi giả vờ đang ngủ say không biết gì.

8
Cho dù có làm việc cố gắng hết sức như thế nào đi chăng nữa thì cuộc sống cũng không thoải mái hơn.
Ghi chú: đi chăng nữa = たとえ

9
Cho dù có uống bao nhiêu thì anh ấy sắc mặt vẫn không thay đổi.
sắc mặt = 顔色(かおいろ)

10
Nó còn chưa chắc đã vô được đại học chứ lấy đâu ra mà vào Tô-đai. ^^

11
Phòng này ngập (đầy) rác và ma túy.

Hãy lau sạch những cuốn sách dính đầy bụi.

12
A: Cậu giận tớ à?
B: Có gì đâu. (Có giận gì đâu chứ)

Sẽ quiz ở trên lớp khi có thời gian nhé.
Takahashi

"Kính viễn" 敬遠 nghĩa là gì?

敬遠 KÍNH VIỄN
Ngoài mặt thì tỏ ra tôn kính (敬る uyamaru) nhưng tránh việc lại gần (遠 viễn).
けいえん
【敬遠】
《名・ス他》表面はうやまったような態度をして、近づくのをさけること。意識してさけること。

"Kính viễn" có nghĩa là "giữ khoảng cách" hay "xa lánh".

Lưu ý là "kính viễn" trong tiếng Nhật không phải là "kính chữa tật viễn thị" ngược nghĩa với "kính cận" (kính chữa tật cận thị) nhé. Mặc dù "kính viễn" tiếng Nhật và "kính viễn" tiếng Việt thì cũng gây kết quả giống nhau: Phải đứng từ xa mà nhìn. Nhưng lý do thì khác nhau, "kính viễn" trong tiếng Nhật là do bạn không thích ai đó nên giữ khoảng cách, còn "kính viễn" trong tiếng Việt thì là vì bạn đứng xa để ... nhìn cho rõ hơn!

Ví dụ:
口うるさいので周囲から敬遠される
上司だからといって小言ばかりだと敬遠される

小言(こごと) càm ràm, phàn nàn

Trong tiếng Việt cũng dùng "kính nhi viễn chi" (敬而遠之) cùng nghĩa từ này.
Ví dụ:
Người ta có câu "chơi với vua như đùa với cọp" nên tôi chỉ dám "kính nhi viễn chi" mà thôi.

Dịch "hạnh kiểm" và "xếp loại hạnh kiểm" sang tiếng Nhật

"Hạnh kiểm" không phải là "đạo đức" (道徳). Để dịch "hạnh kiểm" sang tiếng Nhật thì chúng ta nên tra ra tiếng Anh trước, đó là "conduct, behavior".

"Hạnh kiểm" có nghĩa là hành vi thường ngày nhìn từ quan điểm đạo đức. Trong tiếng Nhật "conduct" là 品行(ひんこう、 phẩm hạnh).

Do đó, hạnh kiểm có lẽ là 品行。

品行が良い hạnh kiểm tốt
品行が悪い hạnh kiểm xấu

Còn "xếp hạng" trong tiếng Nhật là 格付け(かくづけ)

Xếp hạng hạnh kiểm = 品行の格付け

Tôi đoán vậy ^^

Dịch câu sau ra tiếng Nhật:

Về mặt giáo dục, việc xếp hạng hạnh kiểm học sinh là không tốt.
Tôi được cho tốt nghiệp vì hạnh kiểm xấu.
Takahashi

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

Bài tập lớp Cú Mèo Dịch Thuật

Dịch các câu sau:

Đằng nào cũng sẽ rớt nên khỏi học.

Về mặt tiền bạc mà nói thì đây là công việc tốt.

Về mặt giáo dục, việc xếp hạnh kiểm học sinh là không tốt.

Nó bỏ học trái với mong muốn của cha mẹ.

Âm mưu của hắn ngược lại lại gậy ông đập lưng ông.
gậy ông đập lưng ông, phản tác dụng = 裏目に出る

Tôi sửa máy tính nhưng trái lại thì nó lại hỏng thêm.

Cuộc sống đi làm cũng không tệ lắm miễn là bạn sống nghiêm túc và giả dối. ^^ (lời khuyên thật lòng)

Bố tôi nói rằng miễn là còn khỏ thì evẫn muốn đi cướp nhà băng.

Ăn được một bát cháo nên cũng bõ công chạy ba quãng đồng bạn nhỉ? ^^ (nói mát, nói kháy ^^)

Chuông vừa reo một cái là nó phi ra khỏi lớp.

Chúng mình đi xem phim hay gì đó không.

Vì đây là phim Hàn nên rất có thể nhân vật nữ chính sẽ chết vì ung thư ở giữa phim!

Chúng tôi vô cùng xin lỗi nhưng không thể nào đáp ứng yêu cầu của quý khách được ạ.

Anh ấy chính vì đã cố quá nên đã thành ra quá cố. ^^ (bài học cảnh giác)

Cách làm: Vận dụng các mẫu ngữ pháp đã học hôm nay, hay chính xác là hôm qua.
Takahashi

Từ vựng bài "Thành công thì 90% là do số" ^^

運 vận, số
時折 = 時々
一帯 = 一面 trải dài toàn bộ
配給 cấp phát, phần cấp phát
ヤミ取り引き giao dịch chợ đen
闇市場(やみしじょう) = chợ đen
不法な bất hợp pháp
断じて (một cách) kiên quyết
栄養失調 suy dinh dưỡng
内緒 bí mật, lén lút
やっとの思いで 
長い時間や苦労を経て、ようやく、といった感慨を意味する表現
ようやくの思いで。 「 -借金を返す」
nghĩ đủ cách
わずかな chút ít, ít ỏi
飢えをしのぶ(忍ぶ) chịu được qua cơn đói
いずれも=どちらも
戯れ楽しむ(たわむれたのしむ) vui chơi nhảy múa
知恵才覚(ちえいさいかく) trí tuệ và sự nhanh nhạy
自然のことわり(自然の理) cái lý của tự nhiên
則した(そくした) tuân theo, tuân thủ
営み=行為
sinh hoạt, hoạt động, hành động.
営む=忙しく物事をする。怠ることなく励む。「社会生活を―・む」

ひるがえって(翻って) [tạm dịch] ở chiều ngược lại thì ...

自然の摂理
自然界を支配している法則
Nhiếp lý của tự nhiên là những quy tắc chi phối giới tự nhiên. Ở đây là quy luật vận động của tự nhiên.
自然の理法
道理にかなった法則。
Lý pháp tức là định luật, luật lệ phù hợp với đạo lý, lẽ tự nhiên. Ở đây là lẽ tự nhiên (luật lệ của tự nhiên).
みずから(自ら) tự mình (không do ai xúi bẩy)
小ざかしい(こざかしい、小賢しい) nhỏ mọn

工夫努力 (công phu nỗ lực)

Nỗ lực làm cho mọi thứ trở nên tốt hơn ^^ Làm cho nó công phu vào! Bạn công phu thật đấy.


・・・わけだ。
Trong bài này nghĩa là "quả nhiên là, quả đúng là" (đúng như đạo lý được kỳ vọng ^^).


Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2017

Dịch "không biết làm gì với X" sang tiếng Nhật

Các bạn muốn học dịch thuật tiếng Nhật có thể đăng ký Lớp Dịch Cú Mèo Saromalang.

không biết làm gì với X = Xを持て余す(もてあます)

Ví dụ:
Tôi đã từng tốt nghiệp đại học hàng đầu và không biết làm gì với cuộc đời của mình.
私はかつて一流大学を卒業して自分の人生を持て余していた

>>Xem cách dịch "đã từng" trong tiếng Nhật

一流大学(いちりゅうだいがく, nhất lưu đại học) là "đại học hàng đầu". Bên cạnh 一流大学 còn có 二流大学、三流大学 nữa. Hãy dịch ra tiếng Việt và hãy phân tích ý nghĩa của câu trên.

Ví dụ khác là trong bài hát "Người ngoại quốc xa lạ":
あとは悲しみをもてあます 異邦人
Ato wa kanashimi wo moteamasu ihoujin

Tra từ điển
もて‐あま・す【持て余す】 の意味
出典:デジタル大辞泉
[動サ五(四)]取り扱い方や処置に困る。もちあつかう。「むずかる子を―・す」「暇で時間を―・す」「長い手足を―・す」

Bài tập:
1) Phân tích ngữ nghĩa "không biết làm gì với X"
2) Phân tích ngữ nghĩa của 持て余す
3) Dịch sang tiếng Nhật: Người mẹ không biết làm gì với đứa con của mình.

Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017

"Chính khí"

Từ vựng: 正気 [chính khí]
Đọc: しょうき
Ý nghĩa: 正常な心。確かな意識。「正気を失う」「正気に返る」「正気の沙汰 (さた) とは思えない」

Bài tập 1: Hãy dịch "chính khí" ra tiếng Việt.

Bài tập 2: Dịch đoạn văn sau ra tiếng Việt (đã sửa lỗi đánh máy, bài từ Yahoo Japan Hỏi Đáp).
(Sẽ có thể dùng bài này ở Lớp Cú Mèo Dịch Thuật)

うちの妻、正気でしょうか?
私は47歳、妻は45歳です。
結婚8年目 6歳と3歳の子供がおり、妻は妻の希望で寿退社をして専業主婦をしています。

4年前に住宅ローンを組んでですが、戸建のマイホームを購入しました。
8軒の新築分譲なので、だいたいどの家も経済的には同じような感覚のお宅が多いように思います。
男性の私から見ると、どこの家の方も会えば感じよく挨拶をしますし、住みやすい環境だと思っています。

妻も最初はそうだったようですが、ここ半年ぐらい、やたらとご近所を意識するようになってきてしまいました。

Thế nào là 未練 MIREN [vị luyện]? Làm sao để quá khứ ngủ yên?

Trong tiếng Nhật có một số từ mà nhìn hán tự cũng không hiểu nghĩa là gì, và 未練 [vị luyện] là một từ như thế.

"Vị" là chưa, ví dụ 未来 (vị lai = tương lai)、未成年 (vị thành niên)、未知 (vị tri = chưa biết)
"Luyện" là 練習 (luyện tập)、老練 (lão luyện)

"Vị luyện" là cảm giác lưu luyến (với tình cũ) không dứt được. Tóm lại là không để quá khứ ngủ yên được ^^

[名・形動]
1 執心が残って思い切れないこと。あきらめきれないこと。また、そのさま。「未練が残る」「過去に未練はない」「未練な気持ちを引きずる」
2 熟練していないこと。また、そのさま。未熟。
「船軍は―なるべし」〈盛衰記・四三〉

未練が残る = vẫn còn lưu luyến
過去に未練はない = không còn lưu luyến với quá khứ
未練な気持ちを引きずる = kéo dài mãi cảm xúc lưu luyến

Khi chia tay thì bạn thường gặp phải "vị luyện" MIREN. Miren có thể sẽ làm bạn đau khổ, hoặc đơn giản là không bắt đầu được cuộc sống mới.

Do đó, điều quan trọng là biết cách làm cho quá khứ ngủ yên.

Gần đây trên tạp chí Đông Dương Kinh Tế có bài viết:
男はみんな「元カノの成分」でできている Đàn ông tất cả đều được tạo nên bởi "thành phần bạn gái cũ"
43歳男性が忘れられない人を思い出すとき Khi người đàn ông 43 tuổi nhớ về người không thể quên được

Tất nhiên là バカ ^^ Chỉ ông ấy thôi mà lại đi kết luận là 「男はみんな」。

Cả bài viết là cảm giác MIREN, lưu luyến tình cũ, thật ra ổng viết cả sách tiêu đề trên để bán, nhưng nhận được rất nhiều gạch đá. Người Nhật comment thì cũng khá vui, khác hẳn người VN.

Tóm lại thì có người quên quá khứ và có người không. Tôi thuộc diện quên sạch (tức là 綺麗さっぱり忘れるタイプ). Trên đời chia ra hai kiểu người:

Kiểu 1: Ghi đè (上書き uwagaki, overwrite)
Kiểu 2: Lưu thêm (別名保存 betsumei hozon, save as)

Kiểu 2 "Lưu thêm" thì hay lưu luyến người cũ, còn Kiểu 1 thì thường là quên sạch. Vì thế, ngay cả khi bạn lưu  luyến tình cũ thì chưa chắc tình cũ đã lưu luyến bạn, vì nếu hai người vẫn lưu luyến nhau thì đã không chia tay đúng không?

Nếu bạn là người lưu luyến thì hầu như chắc chắn là người kia sẽ quên sạch. Hai kiểu người trên sẽ dẫn tới hành động khác nhau:

Kiểu ghi đè: Không liên lạc người cũ mà chỉ tập trung vào mối quan hệ hiện tại.
Kiểu lưu thêm: Vẫn liên lạc với tình cũ với tư cách bạn bè.

Bởi vì kiểu lưu thêm sẽ luôn nghĩ là bản thân 元恋人の成分でできている (bản thân được tạo nên bởi thành phần người yêu cũ).

Còn kiểu ghi đè thì chỉ nghĩ đơn giản là ああ、そうか (à, vậy à).

"Vị luyện" hay dùng theo cách:
未練たらたら lưu luyến dông dài
未練たらしい lưu luyến mãi không thôi = 未練がましい

Mặc dù người ta nói rằng kiểu lưu thêm (kiểu người lưu luyến) thường là nữ giới, kiểu ghi đè (kiểu người không lưu luyến) thường là nam giới, nhưng theo tôi thì không nhất định thế. Thật ra thì nam hay nữ đều có hai kiểu điển hình trên.

Thậm chí, tôi còn là cả hai loại trên, ban đầu tôi là kiểu lưu luyến, sau này tôi chuyển sang kiểu không lưu luyến.

Lưu luyến hay không lưu luyến thì tốt hơn?

Vì sao con người lại chia ra hai kiểu lưu luyến (ghi thêm) hay không lưu luyến (ghi đè)? Đơn giản là do họ có bị thiếu thốn tình cảm của cha mẹ thời thơ ấu không thôi.

Tôi có thể ghi đè vì tôi không cảm thấy cô đơn mấy như những người khác, vì tôi không thiếu thốn tình thương. Tôi thậm chí còn trở thành bác sỹ tâm lý nữa ý chứ.

Những người thiếu thốn tình thương cha mẹ thường rơi vào tình trạng lưu luyến. Do đó, về cơ bản thì không lưu luyến thì tốt hơn là lưu luyến.

Đừng có 元恋人の成分でできている (bản thân được tạo nên bởi thành phần người yêu cũ) vì như thế nghe chẳng chủ động và chẳng tự tôn gì mấy ^^

Nhưng nếu tuyệt đối hóa chuyện không lưu luyến thì cũng không phải là điều nên làm.

Bởi vì người có nhiều tình cảm và nhớ nhiều hơn thì sẽ giữ gia đình tốt hơn. Người không lưu luyến có xu hướng "bỏ của chạy lấy người" nhiều hơn, vì họ ít đau khổ hơn. Để duy trì gia đình thì đôi khi bạn cũng cần lưu luyến một chút. Nếu không thể, hãy cố gắng lưu luyến ^^

Người lưu luyến thường đau khổ hơn nên họ cố gắng giữ gia đình tốt hơn. Tóm lại là hãy sống đúng bản chất thôi, đấy mới là vương đạo (王道).

Về làm sao để quá khứ ngủ yên thì đừng lưu luyến, hãy tập trung vào lý tưởng mà bạn theo đuổi. Do đó, việc học tập từ thời trẻ, học tập cả đời sẽ có tiếng nói quyết định trong việc bạn tìm ra lý tưởng để theo đuổi, và bạn không bị phụ thuộc tình cảm cá nhân nữa. Học tập và công việc chính là chìa khóa của sự giải thoát. Tôi vẫn nói như vậy ngay từ khi còn trẻ!
Takahashi

Thứ Năm, 20 tháng 7, 2017

[Lớp Cú Mèo N3] Bài tập ngữ pháp 6 tới 10

Các bạn hãy học theo tài liệu phát trên lớp. Đây chỉ là bài tập.

6. ばかりでなく

Nhấn mạnh của だけでなく (không chỉ mà còn).
この部屋は狭いだけでなく、暗いです。
この部屋は狭いばかりでなく、暗いです。

かれは英語だけでなく、フランス語も話せる。
かれは英語ばかりでなく、フランス語も話せる。

Bài tập: 1. Phân biệt sắc thái DAKE DENAKU và BAKARI DENAKU.
2. Vì sao lại là でなく chứ không phải でなくて?

7. ばかりに CHỈ VÌ

Nhấn mạnh lý do, dùng thay cho から。
うそをついたから彼女に嫌われた。
⇒うそをついたばかりに彼女に嫌われた。

Bài tập: Chỉ vì không có tiền mà đã không học được đại học.

8. ばよかった / ばよかったのに

Chỉ sự tiếc nuối: LẼ RA, GIÁ MÀ.

Bài tập: 1. Lẽ ra tôi nên nói ra sự thật sớm hơn.
2. Giá mà tôi nói ra sự thật sớm hơn.

9. べき PHẢI LÀM, NÊN LÀM

Phải làm hay nên làm gì vì đó là điều đúng đắn, điều nên làm.

Ví dụ: 学生は勉強するべきだ。
約束を守るべきだ。

Bài tập: Phân biệt sắc thái các câu sau.

  1. 約束を守ったほうがいい。
  2. 約束を守らなければならない。
  3. 約束を守るべきだ。


10. べきではない KHÔNG ĐƯỢC LÀM, KHÔNG NÊN LÀM

うそをつくべきではない。

Bài tập: Phân biệt sắc thái các câu sau.

  1. うそをつかないほうがいい。
  2. うそをついてはならない。
  3. うそをつくべきではない。

Nhận xét: Ngữ pháp N3 thì thường có SẮC THÁI khác ngữ pháp sơ cấp, do đó, chúng ta phải phân biệt được với ngữ pháp sơ cấp. Bằng cách học hiểu và dịch đúng thì sẽ nhớ được lâu dài. Hơn nữa, ngữ pháp N3 có nhiều mẫu có thể áp dụng trong thực tế để nói văn vẻ hay súc tích, dễ đi vào lòng người, dễ gây ấn tượng tốt.

Bởi vì CON NGƯỜI = NGÔN NGỮ. Bạn càng diễn đạt tốt thì càng được quý trọng và đánh giá cao, dù tính cách của bạn có thể chỉ dở hơi như tôi ^^
Takahashi

[Lớp Cú Mèo N3] Bài tập ngữ pháp 1 tới 5

Lưu ý: Đây chỉ là tóm tắt và bài tập, tài liệu ngữ pháp và câu ví dụ đã phát tại lớp học nhé.

1. あまり "quá đỗi"

うれしさのあまり、 quá đỗi vui sướng
怒りのあまり quá đỗi tức giận
悲しみのあまり quá đỗi đau buồn
Vì quá đỗi thế nào đó mà làm gì đó ^^

失恋した悲しみのあまり、寝込んでしまった。
失意のあまり、命を絶った。

Ha ha. Bài tập:
Vì quá đỗi sợ hãi nên tóc cô ấy bạc trắng sau một đêm.
Vì quá đỗi ngạc nhiên nên anh ấy đã không thốt nên lời.

Nhân tiện, "sợ hãi" thì chúng ta dùng chữ 恐怖(きょうふ, khủng bố)。

2. ば~ほど

Càng ... càng ... Đây chỉ là ngữ pháp sơ cấp mà thôi, ôn lại chút.

Rút gươm chém xuống nước, nước càng chảy mạnh. Nâng chén tiêu sầu, sầu càng sầu thêm ^^

Nâng chén tiêu sầu, sầu càng sầu thêm = 悲しみを解消するために酒を飲めば飲むほど悲しみが深まるばかりだ。

Cảnh báo: Đừng uống rượu giải sầu vì sẽ chỉ buồn thêm và phát triển chứng nghiện ngập. Hãy uống rượu khi bạn vui. Nếu đời bạn toàn chuỗi ngày buồn thì đừng uống giọt nào cả. Tôi còn chưa động tới giọt nào đấy.

Bài tập: Càng cố quên thì lại càng nhớ thêm!
Tôi càng nói thì nó lại càng chẳng thèm nghe.

Nhân tiện, "chẳng thèm nghe" tiếng Nhật nói là 聞こうとしない。

3. Vばいい

Nếu trong câu hỏi: どうすればいいですか。 Làm thế nào thì được ạ?
駅まではどう行けばいいですか。 Tới ga thì đi thế nào thì được ạ?

こうしてやればいい。 Làm thế này là được.
事実を話せばいいです。 Nói ra sự thật là được ạ.

Bài tập: Để vào đại học đấy thì chỉ cần có tiền là được.

4. ばかり TOÀN

Nばかり
Vてばかりいる

あの子はテレビを見てばかりいる。
ゲームをやってばかりいる。 ⇔ ゲームばかりやっている。
毎日、雨が降っているばかりで嫌になる。
彼の話はうそばかりだ。

Trong ngôn ngữ nói thì ばかり thành ばっかり。

Bài tập: Nó toàn uống rượu chẳng chịu làm việc.

5. ばかりだ chỉ toàn (trở nên thế nào đó)

祖父の病気は悪化するばかりだ。
悪化(あっか) [ác hóa] xấu đi
物価が上がるばかりです。
こんなことばかりにあうと、日本が嫌になるばかりだ。

Đây là ngôn ngữ nói còn ngôn ngữ viết thì dùng 一方だ。
景気が悪くなる一方だ。

Bài tập: Đời sống toàn chỉ trở nên khổ hơn.
Sẽ kiểm tra trên lớp vào lần sau.

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

Lớp Cú Mèo Dịch Thuật - Lesson Zero

Buổi 0 tại lớp Cú Dịch Thuật. Tóm tắt lại: Trời mưa, một số bạn đi nhầm sang địa chỉ văn phòng (hình như có gửi hướng dẫn đường đi cho các bạn đã đăng ký?) có lẽ là do chưa gửi form đăng ký hoặc S quên gửi địa chỉ. Ngoài ra, cần phải sắp xếp lại ghế ngồi và vấn đề về tiếng ồn.

Hôm nay là buổi hỏi thăm nguyện vọng học tập của các bạn và quyết định cách học tập trong tương lai. Các bạn hãy chuẩn bị những thứ cần hỏi tới lớp nhé.

Từ buổi sau sẽ tính là buổi 1 session 1.

Tóm tắt nội dung.
Phân biệt sắc thái:
まず
まずは
とにかく
とりあえず
ともかく

Đặt câu với các từ trên và dịch. Ví dụ:
まず帰ります。
まずは帰ります。
とにかく帰ります。
とりあえず帰ります。
ともかく帰ります。

Riêng ともかく thì có mẫu ngữ pháp sau (giống Nはさておき):
心の傷はともかく、規則正しい生活をできるだけ維持していきましょう。

Ngữ pháp: Phân biệt だけあって、だけに、だけのことはある(だけのことはあって)

Ví dụ:
彼女はフランスに10年も住んでいただけあってフランス語がぺらぺらだね。
大いに愛し合っているだけに喧嘩(けんか)もものすごい。 (Yêu nhau lắm, cắn nhau đau ^^)
このメロンは超高かっただけのことはあって、すごくおいしい。
彼は日本語のスピーチがうまい。留学していただけのことはある

Cơ bản thì chúng giống như から (vì ... nên) nhưng sắc thái và cách dịch sẽ khác.

Trong Lesson 1 sẽ dịch cách dịch trợ từ trong tiếng Nhật.
Hẹn gặp ở Lesson 1.
Học phí: Các bạn học lần đầu là 79k x 10 buổi + 99k tài liệu = 889k.
Các bạn đã học lớp N3, N2 thì giảm 10% học phí 79k x 9 buổi + 99k tài liệu = 810k.
Các bạn chưa được hướng dẫn đường đi thì sẽ hướng dẫn trong hôm nay.

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

"Hello darkness, my old friend"

Đây là ca từ của bài "The sound of silence". Yêu cầu: Đọc hiểu và dịch lời bài hát.

Nghe bài hát trên Youtube:


Lời bài hát

"The Sound Of Silence"

Hello darkness, my old friend
I've come to talk with you again
Because a vision softly creeping
Left its seeds while I was sleeping
And the vision that was planted in my brain
Still remains
Within the sound of silence

In restless dreams I walked alone
Narrow streets of cobblestone
‘Neath the halo of a streetlamp
I turned my collar to the cold and damp
When my eyes were stabbed by the flash of a neon light
That split the night
And touched the sound of silence

And in the naked light I saw
Ten thousand people, maybe more
People talking without speaking
People hearing without listening
People writing songs that voices never share
No one dare
Disturb the sound of silence

“Fools” said I, “You do not know
Silence like a cancer grows
Hear my words that I might teach you
Take my arms that I might reach you”
But my words like silent raindrops fell
And echoed in the wells of silence

And the people bowed and prayed
To the neon god they made
And the sign flashed out its warning
In the words that it was forming
And the sign said “The words of the prophets
Are written on the subway walls
And tenement halls
And whispered in the sounds of silence”

Tham khảo:
Lời tiếng Anh:
http://www.azlyrics.com/lyrics/simongarfunkel/thesoundofsilence.html
Giải thích tiếng Nhật:
http://kiyo-furu.com/silence.html

Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017

"She ONCE was a true love of mine": Dịch ĐÃ TỪNG trong tiếng Nhật như thế nào?

"She ONCE was a true love of mine"
"Nàng ĐÃ TỪNG là tình yêu đích thực của tôi"
>>Xem ca từ Scarborough Fair bản dịch và giải thích

Chúng ta dùng ONCE (ĐÃ TỪNG) ở đây là theo cách nói văn vẻ, đây là cách nói giúp cho ngôn từ của bạn bay bướm, dễ đi vào lòng người. Giống như đang "nhả ngọc tuôn châu" vậy ^^

Thật sự là, làm thế nào để nói ra những lời hay ho, đẹp đẽ và dễ nghe? Và gây kích động tận sâu thẳm trong tâm hồn người nghe? Tôi lại là chuyên gia như thế .... tại Lớp Dịch Thuật Cú Mèo Saromalang.

Tôi đam mê ngôn từ và đam mê dịch thuật, đơn giản là vậy thôi.

E hèm, bây giờ vào chủ đề chính. Vậy thì dịch "ĐÃ TỪNG" sang tiếng Nhật như thế nào?

Chắc hẳn bạn nghĩ ngay tới mẫu ngữ pháp Vた(Vだ)ことがある。 nhỉ?

Ví dụ:
A:日本へ行ったことがありますか。 Bạn đã từng tới Nhật Bản chưa?
B:はい、東京へ行ったことがあります。 Vâng, tôi đã từng tới Tokyo.

Câu này tiếng Anh là "Have you been to Japan?".

Nhưng chắc chắn là không ổn lắm, vì hoàn toàn chẳng có văn vẻ chút nào ở đây. Nên còn lâu mới đi vào lòng người được. Bởi lẽ, đây chỉ là hỏi về KINH NGHIỆM với mục đích hỏi thăm thông tin mà thôi.

Câu này dịch đúng là: "Bạn đã từng có kinh nghiệm đi tới Nhật Bản chưa?" hay là "Bạn đã từng thực hiện việc đi tới Nhật Bản chưa?" mà thôi.

Để nói văn vẻ trong tiếng Anh về việc "đã từng (có lúc, có thời gian như thế") thì chúng ta dùng ONCE còn trong tiếng Nhật thì chúng ta sẽ sử dụng かつて

Ví dụ:
私はかつてあの人を愛していた。 Tôi đã từng yêu người ấy.
私はかつて放浪生活を送った時期がある。 Tôi đã từng có thời kỳ sống cuộc sống lang bạt.

Bây giờ chúng ta sẽ dịch câu:
"She ONCE was a true love of mine"
"Nàng ĐÃ TỪNG là tình yêu đích thực của tôi"

Đây là ca từ trong bài hát Hội chợ Scarborough và tôi đã giải thích trong bản dịch. "A true love of mine" ở đây không phải là nàng yêu tôi tha thiết mà là tình yêu đích thực mà tôi dành cho nàng.

Tình yêu đích thực trong tiếng Nhật là 真の愛 "shin no ai". Phàm cái gì đích thực thì đều là 真の "shin no" ví dụ 真の友 (shin no tomo, người bạn đích thực).

Vì đây là tình yêu mà tôi dâng hiến nên sẽ dùng 捧げる sasageru (dâng cho, trao cho một cách trân trọng).

Do đó:
"She ONCE was a true love of mine" = 彼女はかつて私が真の愛を捧げた人だ
Kanojo wa katsute watashi ga shin no ai wo sasageta hito da.

Hi vọng là các bạn yêu thích tiếng Nhật và dịch thuật sẽ áp dụng かつて (đã từng) một cách thường xuyên.

Nếu có điều kiện thì hãy tham gia lớp dịch thuật Cú Mèo nhé:
>>Xem thông tin tuyển sinh và cách đăng ký

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

Tuyển sinh lớp dịch thuật Cú Mèo Saromalang cho các bạn làm công ty Nhật

Đối tượng: Các bạn đã hoàn thành trình độ N3 đang đi làm cho công ty Nhật muốn học cách dịch thuật tiếng Nhật trong công việc.
>>Lớp dịch thuật Cú Mèo Saromalang khai giảng tháng 7/2017
Lưu ý: Không tới văn phòng để đăng ký mà sẽ đăng ký tại địa chỉ lớp học theo các bước sau.
Bước 1: Tải và gửi form đăng ký học.
Bước 2: S hướng dẫn cách đi tới lớp học.
Bước 3: Ngày khai giảng tới đăng ký và đóng tiền.

Học dịch tiếng Nhật với chuyên gia 10 năm kinh nghiệm để
CÓ THỂ DỊCH THUẬT BẤT CỨ THỨ GÌ

Vì sao học tại lớp dịch thuật Cú Mèo Saromalang?

☑ Được hướng dẫn bởi chuyên gia 10 năm kinh nghiệm dịch tiếng Nhật chất lượng cao
☑ Học cách diễn đạt tiếng Việt tốt
☑ Phân tích ngữ pháp và câu đúng

Đặc biệt:
Cách dịch tiếng Nhật chuyên ngành

Bạn sẽ giải quyết được MỌI RẮC RỐI với tiếng Nhật trong công việc. Đặc trưng của lớp học là bạn có thể mang thứ bạn muốn dịch lên lớp và học cách dịch trên lớp. Do đó, sẽ giúp ích cho bạn trong công việc liên quan tới tiếng Nhật.

Nội dung học đa dạng

Dịch sách, dịch bài hát, dịch bài viết vv. Nội dung hữu ích không chỉ trong việc học tiếng Nhật mà còn trong cuộc sống. Ngoài ra là các nội dung mà các bạn muốn dịch cũng sẽ được chỉ cách dịch trên lớp.

Bí quyết để dịch hay là phải diễn đạt tiếng Việt tốt. Và để diễn đạt tiếng Việt tốt thì phải học cách diễn đạt. Không thể dịch các từ tiếng Nhật khác nhau theo cùng một cách trong tiếng Việt mà phải dùng các từ ngữ đa dạng để diễn đạt.

Đây là lớp dịch theo yêu cầu học viên và sẽ dịch bất kỳ thứ gì cũng như hướng dẫn cách diễn đạt tiếng Việt sao cho hay và chính xác.

Tiêu chuẩn của "dịch đúng" tại lớp Cú Mèo Saromalang

☑ Dịch đúng từ (đúng ngữ nghĩa)
☑ Dịch đúng ngữ pháp
☑ Dịch đúng sắc thái của câu
☑ Dịch đúng thành ngữ, quán ngữ
☑ Dịch đúng từ chuyên ngành, từ chuyên môn

Nền tảng của việc dịch trước hết là phải dịch chuẩn từ vựng, sau đó mới phân tích ngữ pháp của câu và dịch đúng ngữ pháp. Tại lớp Cú Mèo Saromalang bạn sẽ được dạy từ A đến Z thông qua các tài liệu đa dạng.

Thu được gì sau khi học lớp dịch Cú Mèo Saromalang?

☑ Không còn gặp rắc rối với việc dịch tiếng Nhật trong công việc
☑ Biết cách phân tích câu để dịch đúng, dịch nhanh
☑ Dịch từ vựng chuẩn, diễn đạt tiếng Việt tốt

Chắc chắn bạn sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức cho công việc của bạn.
Thời gian học dự kiến: Thứ 2, 4, 6 tại lớp học quận 7 (sát quận 4).
Thời gian: 18:30 ~ 20:00 (90 phút)
Khai giảng: Thứ Tư ngày 19 tháng 7 năm 2017 (lưu ý là dời từ thứ Hai qua thứ Tư)

>>Hướng dẫn gửi form đăng ký

Hơn nữa còn học dịch theo cách nhẹ nhàng và vui vẻ mà các bạn N3 cũng có thể hiểu và theo được dễ dàng!
Lớp dịch thuật tiếng Nhật Cú Mèo Saromalang

Thứ Tư, 12 tháng 7, 2017

Lớp dịch thuật Cú Mèo Saromalang khai giảng tháng 7/2017

Thân gửi các bạn

Từ tháng 7 này Saromalang sẽ khai giảng lớp Dịch thuật Cú Mèo Saromalang (gọi tắt là lớp Dịch CMS). Lớp dịch CMS có gì hay?

Bạn sẽ được giải quyết mọi rắc rối liên quan tới tiếng Nhật. Điểm đặc biệt là dù bạn gặp rắc rối với việc đọc hiểu hay dịch nào cũng có thể mang tới lớp và học cách dịch trên lớp. Ngoài ra, lớp học cũng dạy dịch các ngữ pháp từ N3 tới N1.

Như vậy, đây là lớp học mở mà các bạn học viên cũng có thể tham gia và học cách dịch thuật trong lĩnh vực của mình, đồng thời mọi người có thể chia sẻ cách dịch thuật với nhau dưới sự hướng dẫn của huấn luyện viên.

GIẢI QUYẾT MỌI RẮC RỐI VỀ DỊCH THUẬT TIẾNG NHẬT!


Đặc trưng của lớp Dịch CMS

☑Học cách dịch đúng ngữ pháp N3 tới N1
☑Dịch và vận dụng từ vựng quan trọng, từ vựng ngữ pháp
☑Phân tích câu <Kỹ thuật dịch>
☑Phân tích ngữ nghĩa, sắc thái <Phương pháp so sánh>
☑Dịch thuật theo chủ đề mà huấn luyện viên đưa ra
Dịch thuật theo yêu cầu, nhu cầu của học viên

Lớp học phù hợp cho ai?

☑Người đi làm công ty Nhật gặp rắc rối với dịch thuật và tiếng Nhật.
☑Các bạn học sinh, sinh viên muốn học đúng kiến thức ngay từ đầu.
☑Người làm công việc phiên dịch, thông dịch.
☑Người đam mê dịch thuật và tiếng Nhật.

Yêu cầu đầu vào

Đã học hết ngữ pháp N3.

Cách đăng ký

Bước 1: Tải form đăng ký tại đây: Trang tuyển sinh hoặc từ Google Drive
Bước 2: Điền thông tin, ghi tên bạn và tên quận của bạn vào tên file
Bước 3: Gửi email cho saromalang@gmail.com, tiêu đề "Đăng ký lớp Dịch CMS tháng 7/2017"

Thông tin thời gian học và học phí

Thời gian sẽ sắp xếp sao cho nhiều bạn tham gia học được nhất và không đảm bảo sắp xếp được cho mọi bạn. Có ưu tiên các bạn đã học các lớp luyện thi N3, N2.

Học phí: Bằng học phí lớp N1, 79k/buổi, đóng theo session 10 buổi. Phí tài liệu 99k/session.

Tìm hiểu thêm thông tin về cách học tại lớp Cú Mèo: Trang Lớp học
Takahashi

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

Ca từ "Greensleeves"

"Sleeve" là ống tay áo và do đó "greensleeves" là "tay áo xanh". Bài Greensleeves được coi là của vua Henry VIII vương triều Tudor viết cho người tình của mình. Cũng có thuyết greensleeve là chỉ các cô kỹ nữ hoặc phụ nữ hoang dại bị dính cỏ xanh vào tay áo.

Bài hát:

Ca từ
GREENSLEEVES 緑の小袖 TAY ÁO XANH
Alas, my love, you do me wrong,
To cast me off discourteously.
For I have loved you so long,
Delighting in your company.
ああ、愛しの人よ、あなたは間違っている
私を失礼にも捨ててしまうとは
私はあなたをずっと愛してきて
あなたと一緒にいるのが歓びでした
Than ôi, tình yêu của ta, nàng đã sai rồi
Khi ném ta đi một cách thất lễ
Khi mà ta đã yêu nàng quá lâu
Luôn hoan hỉ mỗi khi ở bên cạnh nàng

Greensleeves was all my joy
Greensleeves was my delight,
Greensleeves was my heart of gold,
And who but my lady greensleeves.
緑の小袖のあなたは私の全ての楽しみ
緑の小袖のあなたは私の歓喜
緑の小袖のあなたは私の黄金の心
そして緑の小袖のあなた以外に私の貴婦人はいないのだ
Tay áo xanh đã là tất cả niềm vui của ta
Tay áo xanh đã là niềm hoan hỉ của ta
Tay áo xanh đã là trái tim vàng của ta
Còn ai khác nữa ngoài quý cô tay áo xanh

Your vows you've broken, like my heart,
Oh, why did you so enrapture me?
Now I remain in a world apart
But my heart remains in captivity.
貴方は誓いを破った、私の心のように
ああ、なぜ貴方は私をこれほど狂喜させるのか?
離れた世界に取り残されているが
私の心は相変わらず貴方の虜だ
Những lời thề của nàng mà nàng đã phá bỏ, như trái tim của ta
Ồ, vì sao nàng đã làm ta mê mẩn đến vậy
Giờ đây ta bị bỏ lại trong một thế giới tách biệt
Nhưng con tim ta vẫn đang bị cầm tù

Greensleeves was all my joy
Greensleeves was my delight,
Greensleeves was my heart of gold,
And who but my lady greensleeves.
緑の小袖のあなたは私の全ての楽しみ
緑の小袖のあなたは私の歓喜
緑の小袖のあなたは私の黄金の心
そして緑の小袖のあなた以外に私の貴婦人はいないのだ

Greensleeves was all my joy
Greensleeves was my delight,
Greensleeves was my heart of gold,
And who but my lady greensleeves.
緑の小袖のあなたは私の全ての楽しみ
緑の小袖のあなたは私の歓喜
緑の小袖のあなたは私の黄金の心
そして緑の小袖のあなた以外に私の貴婦人はいないのだ

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

Ca từ "Scarborough Fair" bản dịch và giải thích

Nghe bài hát Scarborough Fair:

Hoặc trên Youtube

Bài hát Scarborough Fair không phải do Simon and Garfunkel sáng tác mà là một bài dân ca Anh quốc có lịch sử khoảng 610 năm (khoảng 1300). Mặc dù giai điệu quen thuộc nhưng không phải ai cũng hiểu hết ý nghĩa của lời bài hát. Tất nhiên chúng ta biết bài hát nói về ái tình:

"She once was a true love of mine"
"Nàng đã từng là tình yêu đích thực của tôi"

"Then she'll be a true love of mine"
"Rồi nàng sẽ trở thành tình yêu đích thực của tôi"

Vậy còn "Parsley, sage, rosemary and thyme" (Lá ngò, xô thơm, hương thảo và cỏ xạ hương)?

Dòng này có trong mọi tiết của bài hát. Hẳn nhiên là đây là những loại gia vị dùng trong cuộc sống hàng ngày được bán ở hội chợ Tư Ca Bá Lặc (Scarborough). Nhưng ý nghĩa của chúng trong lời bài hát là gì?

Tôi nghĩ đó là biểu tượng và hàm ý về cuộc sống êm đềm, hạnh phúc bên nhau. Và cuộc sống đó đã kết thúc bởi lẽ "nàng đã từng là tình yêu đích thực của tôi" và nghĩa là tình yêu đích thực này đã chết, không còn nữa. Rốt cuộc thì chìa khóa ở đây là "true love" (tình yêu đích thực). Phải hiểu rõ khái niệm này mới có thể hiểu được nội dung của bài hát.

Đây không phải là tình yêu giữa "tôi" và "nàng" theo nghĩa thông thường, đây là tình yêu mà "tôi" dành cho "nàng". Và chắc chắn là "tôi" và "nàng" đã từng sống êm đềm, thân ái với nhau.

Vì sao tình yêu đích thực mà "tôi" dành cho "nàng" lại tan vỡ? Vì trong lúc "tôi" mải chinh chiến, thực hiện bổn phận, nghĩa vụ thì nàng đã làm gì đó có lỗi. Lỗi lầm của "nàng" quá đỗi to lớn, khó mà có thể tha thứ và "nàng" chỉ cố sửa sai lầm này bằng sai lầm khác. Mặc dù "tôi" vẫn yêu "nàng" bằng một tình yêu đích thực, nhưng có khi nào gương vỡ lại lành, bát nước hắt đi làm sao có thể đầy lại? Khi mà "nàng" vẫn không chịu thừa nhận lỗi lầm của mình và đã đẩy mọi thứ đi quá giới hạn của sự chịu đựng?

Các tiết sau là những điều kiện để "Then she'll be a true love of mine" ("Rồi nàng sẽ trở thành tình yêu đích thực của tôi"):
Tell her to make me a cambric shirt
Without no seams nor needle work
Then she'll be a true love of mine
Hãy bảo nàng  may cho tôi một chiếc áo vải lanh,
Chẳng có những đường khâu, mũi vá
Rồi nàng sẽ trở thành tình yêu đích thực của tôi 

Đây là điều gần như không thể thực hiện được, gần như là đánh đố. Bởi lẽ làm sao may áo vải lanh mà không cần đường khâu mũi vá?

Nhưng từ tận trong tâm hồn "tôi" vẫn luôn mong "nàng" có thể tỉnh ngộ và lại trở thành tình yêu đích thực của "tôi", mặc dù điều đó khó mà có thể trở thành hiện thực. Và vì thế mà có lẽ tình yêu đích thực sẽ chết và quá khứ sẽ được chôn chặt.

Khái niệm "tình yêu đích thực"

Để trở thành "tình yêu đích thực" của ai đó thì chắc chắn không dễ và "nàng" có lẽ phải là một người đặc biệt. Dù "nàng" có phạm sai lầm đi chăng nữa, "nàng" vẫn luôn là tình yêu đích thực. Nhưng chính "nàng" lại giết chết tình yêu này vì mặc cảm lỗi lầm, vì tính hiếu thắng, vì tham vọng .... của "nàng". Đâu phải vì là người đặc biệt nên sẽ có mọi thứ trong cuộc đời?

Liệu rằng "nàng" có thức tỉnh và làm sống lại tình yêu đích thực mà "tôi" dành cho nàng? Chúng ta không thể nào biết được. Chúng ta đâu có khả năng đọc tâm trí của người khác. Hơn nữa, liệu tình yêu đích thực của "tôi" đó có đáng giá với "nàng" không? Có lẽ chỉ có "nàng" biết mà thôi.

Vì thế mà ca từ Scarborouh Fair vẫn luôn văng vẳng bên tai chúng ta "She once was a true love of mine" ("Nàng đã từng là tình yêu đích thực của tôi").

Phần hát bè

Phần bè này là của Simon and Garfunkel thêm vào. Ở đây nói về bổn phận, nghĩa vụ của người đàn ông ("tôi"). Có lẽ chính vì để "nàng" cô đơn mà nàng đã phạm sai lầm. Suy cho cùng, phụ nữ ai chẳng thích những lời ngọt ngào. Cũng có ý kiến là để lên án chiến tranh phi nghĩa "And to fight for a cause they've long ago forgotten" (Và chiến đấu cho một đại nghĩa mà họ đã quên từ lâu). Do bản của Simon and Garfunkel là vào năm 1966 khi đang có chiến tranh. Tuy nhiên, cũng không hẳn như vậy. Vì bản thân chiến tranh không có mục đích mà người ta nghĩ ra mục đích (đại nghĩa) để hợp lý hóa nó. Chiến tranh khiến con người ta phải thực hiện bổn phận, nghĩa vụ, khiến những kẻ nhỏ bé cũng có thể hoặc bị buộc phải hi sinh vì đại nghĩa.

Phần bè này không có trong nguyên bản của Scarborough Fair dân ca nước Anh.

Ca từ và bản dịch

English
Japanese
Vietnamese
[Verse 1]
Are you going to Scarborough Fair
Parsley, sage, rosemary and thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine
第1連
スカボローフェアに行くのかい?      
パセリ、セージ、ローズマリーにタイム
そこに住んでいるあの人によろしく伝えてほしい
かつて私が真の愛を捧げたあの人に
[Tiết 1]
Bạn đang đi tới hội chợ Scarborough?
Lá ngò, xô thơm, hương thảo và cỏ xạ hương
Hãy nhắc tới tôi với một người ở đó
Rằng nàng đã từng là tình yêu đích thực của tôi
[Verse 2]
Tell her to make me a cambric shirt
(On the side of a hill in the deep forest green)
Parsley, sage, rosemary and thyme
(Tracing of sparrow on snow crested brown)
Without no seams nor needle work
(Blankets and bedclothes the child of the mountain)
Then she'll be a true love of mine
(Sleeps unaware of the clarion call)
第2連
薄い布地のシャツを作ってくれるようあの人に伝えてほしい
深緑の森の丘の斜面で
パセリ、セージ、ローズマリーにタイム
白頭雀の足跡を追う
縫い目も無く細かな針仕事もしてないシャツをね
毛布と敷布の子どもは山の中で
そうすれば再び、真の愛を捧げることができるだろう
眠っている。甲高いラッパにも気づくことなく
[Tiết 2]
Hãy bảo nàng làm cho tôi chiếc áo vải lanh mịn
(Trên sườn đồi ở rừng sâu xanh thẳm)
Lá ngò, xô thơm, hương thảo và cỏ xạ hương
(Lần theo chú chim sẻ nâu đầu trắng)
Chẳng có những đường may hay mũi vá
(Trải nệm và trải chăn cho đứa con của ngọn núi)
Rồi nàng sẽ là tình yêu đích thực của tôi
(Ngủ miên man không nghe thấy tiếng kèn hội quân)
[Verse 3]
Tell her to find me an acre of land
(On the side of a hill a sprinkling of leaves)
Parsley, sage, rosemary and thyme
(Washes the grave with silvery tears)
Between the salt water and the sea strands
(A soldier cleans and polishes a gun)
Then she'll be a true love of mine
第3連
1エーカーの土地を見つけてくれるようあの人に伝えてほしい
丘の斜面で舞い散る葉が
パセリ、セージ、ローズマリーにタイム
銀の涙で墓石を洗う
海と海岸との間にね
兵士は銃をきれいに磨く
そうすれば再び、真の愛を捧げることができるだろう
[Tiết 3]
Hãy bảo nàng tìm cho tôi một mẫu đất
(Trên sườn đồi lá rơi lả tả)
Lá ngò, xô thơm, hương thảo và cỏ xạ hương
(Rửa sạch ngôi mộ với những giọt lệ bạc)
Ở giữa nước muối và bờ biển
(Một người lính lau và đánh bóng súng)
Rồi nàng sẽ là tình yêu đích thực của tôi
[Verse 4]
Tell her to reap it with a sickle of leather
(War bellows blazing in scarlet battalions)
Parsley, sage, rosemary and thyme
(Generals order their soldiers to kill)
And gather it all in a bunch of heather
(And to fight for a cause they've long ago forgotten)
Then she'll be a true love of mine
第4連
革を鎌の形にして刈り取りをするようあの人に伝えてほしい
戦争は轟き、緋色の軍隊に燃え上がる
パセリ、セージ、ローズマリーにタイム
将軍たちは兵士に殺せと命じる
そして、短いヒースの束の中に全部入れるようにと
とうの昔に忘れられた大義のために戦えと
そうすれば再び、真の愛を捧げることができるだろう
[Tiết 4]
Hãy bảo nàng gặt nó với lưỡi liềm da thuộc
(Chiến tranh rền vang, cháy sáng những đoàn quân đỏ chói)
Lá ngò, xô thơm, hương thảo và cỏ xạ hương
(Các tướng lĩnh ra lệnh binh lính giết chóc)
Và bó tất cả vào trong một chùm thạch nam
(Và chiến đấu cho một đại nghĩa mà họ đã quên từ lâu)
Rồi nàng sẽ là tình yêu đích thực của tôi
[Verse 5]
Are you going to Scarborough Fair
Parsley, sage, rosemary and thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine.
第5連
スカボローフェアに行くのかい?
パセリ、セージ、ローズマリーにタイム
そこに住んでいるあの人によろしく伝えてほしい
かつて私が真の愛を捧げたあの人に
[Tiết 5]
Bạn đang đi tới hội chợ Scarborough?
Lá ngò, xô thơm, hương thảo và cỏ xạ hương
Hãy nhắc tới tôi với một người ở đó
Rằng nàng đã từng là tình yêu đích thực của tôi


Tham khảo:
Bản dịch Nhật ngữ:
http://kawasaki5600.blog64.fc2.com/blog-entry-214.html
http://www.worldfolksong.com/songbook/england/scarborough-fair.html
http://kiyo-furu.com/fair.html

Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2017

"She once was a true love of mine"

Scarborough Fair là một bài hát nổi tiếng mang giai điệu dân ca Anh quốc. Scarborough Fair là Hội chợ Scarborough, một địa danh ở nước Anh. Bài hát có nhiều dị bản, ở đây là của Simon and Garfunkel. Giai điệu bài hát luôn vang lên, nhắc nhở chúng ta rằng:

"She once was a true love of mine"
"Nàng đã từng là tình yêu đích thực của tôi"

Đây cũng là bài hát chủ đề trong phim "Tốt nghiệp sinh":



Tôi có nói về tình yêu là ảo mộng và quả thực như thế. Nhưng rốt cuộc vì sao mọi người vẫn yêu? Vì chỉ có tình yêu đích thực mới cho bạn sức mạnh đấu tranh vượt qua nghịch cảnh, sức chịu đựng vượt qua thời gian, chịu những nỗi đau đớn và mất mát, giúp bạn có sức mạnh tinh thần để đấu tranh và hi sinh vì đại nghĩa. Toàn những thứ mà bạn chẳng cần nếu bạn không yêu ai ^^

Vì là tình yêu đích thực nên sẽ không bao giờ mất đi, chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác, và từ người này sang người khác ^^ Nó giúp bạn hiểu được nỗi đau của sự mất mát, giúp bạn có động lực sống và sống có ý nghĩa. Chẳng có gì sai trái khi đấu tranh, hi sinh cho tình yêu đích thực. Và cũng chẳng ai hối tiếc về điều đó. Hãy sẵn sàng đón nhận nỗi đau và mất mát.

Rồi thời gian sẽ chữa lành mọi vết thương. Hoặc đơn giản hơn là bạn sẽ tự chữa lành vết thương. Sự mất mát tình yêu khiến con tim bạn rỉ máu, làm bạn khóc cạn nước mắt, khiến tinh thần bạn rệu rã, thể xác bạn suy yếu. Nhưng bạn hãy ngẩng cao đầu mà sống tiếp.

Vì tình yêu đích thực sẽ đi theo chúng ta tới cuối cuộc đời. Dù chúng ta đã chôn thật chặt quá khứ, nhưng quá khứ vẫn là quá khứ. Hãy nhớ về thời gian chúng ta đã từng sống, thật tươi đẹp biết bao. Hay không nhỉ? Ai mà nhớ được. Bao nhiêu năm tháng đã qua, tóc ta cũng đã điểm bạc. Không còn tình yêu chúng ta sống như thể tâm hồn đã chết, và mọi niềm vui hóa thành tro trong miệng. Điều tệ nhất là chúng ta sẽ sống tiếp, ngày mai, ngày kia, ngày sau nữa, ... Bao giờ nỗi đau mới chấm dứt? Tôi không biết. Chúng ta vẫn phải bước tiếp vì còn bao nhiêu việc phải làm, bao nhiêu lý tưởng cần phải thực hiện. Và chẳng còn sức mạnh nào nữa. Chúng ta phải tiếp tục bước đi trên đôi chân của mình, một mình cô độc trên đường đời.

Phải chăng những năm tháng gian khó, sự miệt mài đấu tranh cho lý tưởng đã làm tình yêu tan vỡ? Hay lòng tham và tham vọng đã giết chết tình yêu? Chúng ta chịu không thể hiểu nổi và không thể biết được. Chúng ta khao khát biết sự thật ngoài tầm với của tất cả chúng ta.

Nhưng có một điều mà chúng ta chắc chắn: Đó là tình yêu đích thực (true love) mà chúng ta đã cho đi, sẵn sàng hi sinh mọi thứ vì nó, và không bao giờ hối tiếc. Với sự trung thành và sự xác tín không hề suy suyển theo năm tháng. Không hề có một giây phút nghi ngờ. Và rồi tình yêu đã chết. Chính tay chúng ta chôn vùi nó và chôn chặt quá khứ. Chúng ta luôn tự hỏi phải chăng cuộc đời, tình yêu chẳng qua chỉ là một giấc mộng? Hơn nữa, là một giấc mộng đẹp luôn khiến ta tiếc nuối?

Hay đơn giản là vì chúng ta đã không thật sự đấu tranh? Cho dù tâm hồn chúng ta khao khát biết sự thật đi nữa, thì cũng để làm gì nữa khi tình yêu đã chết? Những câu hỏi sẽ không bao giờ được trả lời, và quá khứ sẽ mãi day dứt cho tới ngày nó ngủ yên.

Nỗi đau này không phải liều thuốc độc cho tâm hồn con người, mà nó nhắc nhở chúng ta chỉ là con người. Về sự ấm áp, sự tử tế, sự tôn trọng, sự tin tưởng mà chúng ta đã từng có. Và tất nhiên, luôn nhắc nhở chúng ta về tình yêu đích thực:

"She once was a true love of mine"
"Nàng đã từng là tình yêu đích thực của tôi"

Chúng ta đã chọn cuộc sống như thế. Và chúng ta đã sống tốt, không bao giờ dằn vặt và hối tiếc. Giờ mọi chuyện trở nên muộn màng và chúng ta phải chấp nhận như là biến cố thời gian.

"人间事常难遂人愿,且看明月又有几回圆。
Việc nhân gian thường khó mà chiều theo ý con người,
Thoáng chốc đã thấy trăng sáng lại mấy lần tròn."

>>Ca từ "Tây du ký"

Lời bài hát Scarborough Fair

Đáp án kỳ thi JLPT tháng 7 năm 2017 (kì thi "Nô" lệ tiếng Nhật)

Chào các bạn,
Ngày 2 tháng 7 chủ nhật tới đây các bạn sẽ thi kỳ thi JLPT. Làm thế nào để thi tốt? Hãy nghiên cứu kỹ cấu trúc kỳ thi và có chiến lược thi tốt. Bài viết này là để đăng kết quả kỳ thi JLPT kỳ này ngay khi có trên mạng.

Chú ý khi đi thi: Để có thể đọ đáp án và tính điểm bạn cần phải ghi lại được câu trả lời của mình. Tuy nhiên, nhiều khả năng bạn không được mang giấy nháp vào phòng thi do đó hãy ghi lên phiếu dự thi chẳng hạn (vì thường phiếu dự thi sẽ cầm về). Nên ghi theo thứ tự câu hỏi ví dụ câu 1 phần kiến thức ngôn ngữ bạn chọn đáp án 3 thì có thể ghi là K1.3 chẳng hạn. Sau khi đi thi về xem ở đây có kết quả chưa và tính điểm của bản thân.

BỘ CÔNG CỤ TÍNH ĐIỂM THI JLPT CALC CỦA SAROMALANG

Kiến thức về JLPT
>>Chiến lược thi JLPT điểm cao (2012)
>>Mọi điều bạn cần biết về JLPT (Sea)
>>Cách tự tính điểm JLPT gần đúng (2012)
>>Cách ghi lại câu trả lời khi đi thi JLPT
>>Tham khảo: Đáp án kỳ thi JLPT tháng 12/2016
Chuyên đề JLPT
>>Kỳ thi JLPT đã thay đổi cách ra đề như thế nào?
>>Chiến lược thi đọc hiểu (DOKKAI) tốt là gì?
>>Chiến lược thi nghe hiểu (CHOUKAI) và 3 BÍ QUYẾT nghe hiểu

ĐÁP ÁN KỲ THI NĂNG LỰC NHẬT NGỮ THÁNG 7/2017
JLPT EXAM ANSWER 7/2017 

Đáp án từ N1 tới N5 (theo thứ tự N1, N2, N3, N4, N5). Ghi chú: Đây chỉ là đáp án tham khảo, không đảm bảo chính xác 100%. Ngoài ra, điểm còn được chuẩn hóa. Tham khảo cách tính điểm JLPT gần đúng của Saromalang ở bài viết trên.

Có thể có truy cập tập trung số lượng lớn nên các bạn cần kiên nhẫn. Khi có đáp án nào sẽ thông báo tại Facebook Page của Saromalang nên các bạn hãy like page sẵn.

Các đáp án đã đăng (ngày đăng)
N1: Đã có đủ (2/7)
N2: Đã có đủ (2/7)
N3: Đã có đủ (2/7)
N4: Chưa có
N5: Chưa có

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2017

Sắc thái của từ "vỡ trận"

Dạo này người ta thích từ "vỡ trận" có nghĩa là: Tôi không làm gì sai cả, chẳng qua là trận nó tự vỡ thôi. Tức là "tôi không chịu trách nhiệm".


"Vỡ trận" tức là đổ lỗi cho "trận", tức là những người đóng vai quần chúng tham gia trận đánh đó. Tại họ xung phong thái quá, hoặc hờ hững thái quá. Chứ kế hoạch, ý tưởng, vv đều đúng hết.

Nhân tiện, "vỡ trận" tiếng Nhật là gì?

Trong tiếng Nhật dùng chữ 破綻 [phá trán].

Cách đọc: 破綻=破たん=はたん

"Phá trán" tức là nát tươm.

大辞林 第三版の解説
はたん【破綻】
( 名 ) スル

着物などがやぶれほころびること。 「処々-して垢染みたる朝衣を穿ちたり/経国美談 竜渓」

まとまっている状態が維持できなくなること。成り立たなくなること。 「生活が-する」

Kinh doanh sập tiệm gọi là 経営破綻 [kinh doanh phá trán].
Cái gì đổ vỡ là 破綻する。 Ví dụ 職を失って生活が破綻した。 Mất việc nên cuộc sống đổ vỡ.

Nhưng "phá trán" khác "vỡ trận" ở chỗ "vỡ trận" là đổ trách nhiệm cho "trận" tức là quần chúng tham gia trận đánh "quần chúng dân trí chưa cao nên hành động thái quá làm vỡ trận của chúng anh chúng chị" ^^

Lỗi là tại quần chúng đâu phải lỗi tại chúng anh chúng chị. Vì kế hoạch, ý tưởng đều đúng, chỉ có trận là vỡ thôi.

Do đó: Vỡ trận = (計画などが)群衆のせいで破たんする
(kế hoạch) thất bại, đổ vỡ do lỗi quần chúng

Takahashi

Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2017

Hướng tới kì thi JLPT: Chiến lược thi nghe hiểu (CHOUKAI) và 3 BÍ QUYẾT nghe hiểu

Sắp tới kỳ thi JLPT nên tôi trình bày bí quyết thi phần nghe ở đây. JLPT là kỳ thi năng lực tiếng Nhật, tên chính thức là thế, nhưng tôi thích gọi là "thi Nô" hơn, tức là kỳ thi "Nô" lệ tiếng Nhật.

Bạn đã sẵn sàng thi "Nô" lệ tiếng Nhật chưa?

Việc học và thi nghe hiểu tiếng Nhật ở VN thường không tốt. Lý do là vì mọi người quá chú trọng việc ... luyện nghe. Luyện nghe thì tốt thôi, nhưng hiếm ai luyện nghe mà nghe tốt lên. Mà luyện nghe lại tốn thời gian khủng khiếp. Ai mà có thời gian nhiều thế chứ.

Hơn nữa, âm thanh khi thi ở VN còn không tốt, bị vỡ âm, vỡ tiếng, "vỡ trận" (theo ngôn từ khi người ta thất bại nhưng không muốn nhận trách nhiệm mà đổ cho quần chúng xung phong thái quá ^^). Khi thi có tiếng chó sủa, tiếng karaoke, tiếng người cãi nhau là chuyện thường. Nên càng cần có bí quyết phán đoán ở bên dưới.


Thật ra, để nghe hiểu tốt thì cần thiết phải có yếu tố sau:

Vốn từ vựng tốt.
Phát âm tốt.

Học sinh VN khi học tiếng Nhật thường phát âm sai vì có cả phong trào dạy và học phát âm tiếng Nhật kiểu VN. Không phát âm đúng thì thường không nghe được. Đặc biệt là mọi người thường phát âm sai âm ngắn và âm dài.

Vì thế, tại lớp Cú Mèo Saromalang thì thường luyện phát âm bên cạnh học từ vựng hàng ngày.

Thật ra thì tôi hiếm khi luyện nghe. Vì chỉ buồn ngủ thôi. Tôi chỉ luyện từ vựng và phát âm sao cho chuẩn. Đây mới là cách học đúng. Vẫn có rất nhiều bạn trả tiền để luyện nghe, luyện hội thoại nhưng phát âm thì vẫn sai như thường. Như thế chỉ tốn tiền và thời gian.

Dưới đây là cách luyện nghe hiểu tại lớp Cú Mèo. Có 3 bí quyết dưới đây.

Thứ Năm, 22 tháng 6, 2017

Hướng tới kỳ thi "Nô" JLPT: Chiến lược thi đọc hiểu (DOKKAI) tốt là gì?

Phần đọc hiểu (読解 Dokkai) có lẽ là phần khó nhất trong kỳ thi Năng lực Nhật ngữ (JLPT). Việc làm không tốt phần đọc hiểu có thể dẫn tới hai hậu quả chính:

Hậu quả 1: Điểm đọc hiểu thấp dẫn tới toàn bài thấp điểm không đủ đậu.
Hậu quả 2: Điểm đọc hiểu bị liệt (không được 19/60 điểm)

Dù là cấp độ nào thì đọc hiểu cũng chiếm 60 điểm trên tổng số 180 điểm mặc dù số câu thường khá "ít". So với phần "Chữ - Từ vựng" (文字・語彙 Moji - goi) khoảng hơn 30 câu, phần ngữ pháp khoảng hơn 20 câu thì đọc hiểu thường chỉ tầm 10 câu. Mỗi câu trị giá tới khoảng ... 6 điểm.

Ngoài ra, đọc hiểu sẽ làm tốn rất nhiều thời gian của bạn, khiến điểm các phần khác cũng bị ảnh hưởng.

ĐỌC NHANH là tối cần thiết để thi đọc hiểu

Vậy chiến lược đọc hiểu thế nào?

Đại đa số các bạn đi thi thường có chiến lược: Đọc câu hỏi trước rồi mới đọc bài. Theo tôi thì đây chỉ là LÝ THUYẾT SUÔNG. Nghe có vẻ tốt thì đúng hơn là tốt. Bởi vì đọc xong câu hỏi bạn vẫn không hiểu nội dung bài và vẫn phải đọc bài đọc ... từ đầu. Nghĩa là bạn sẽ tốn thời gian hơn cả làm bài kiểu truyền thống  tức là "Đọc đề => Đọc câu hỏi => Giải đề".

Để thi phần đọc hiểu tốt thì quan trọng là phải HIỀU NỘI DUNG BÀI ĐỌC NÓI VỀ GÌ trước. Do đó, đọc câu hỏi trước thường không có mấy tác dụng vì không giúp bạn phán đoán gì được về bài đọc.

Do đó, tại lớp Cú Mèo Saromalang thì tôi cho các bạn luyện tập ĐỌC NHANH tức là 速読 SOKUDOKU. Để làm bài thi tốt thì phải luyện cách đọc nhanh và tôi áp dụng cho mọi lớp Cú Mèo mọi trình độ. Bí quyết đi thi của tôi không phải là đọc câu hỏi trước, mà là ĐỌC NHANH. Và để thực sự đọc nhanh được thì các bạn cần LUYỆN TẬP (PRACTICE). Đây không phải là lý thuyết suông.

Bởi vì có nhiều dạng bài đọc hiểu khác nhau nên mỗi dạng cần phải đọc nhanh theo cách hơi khác nhau. Tôi ví dụ bài đọc về HÌNH VẼ - SỐ LIỆU thì bạn vẫn phải lướt hầu như toàn bài nhưng bí quyết là đọc nhanh và SO SÁNH. Đọc nhanh ở đây là đọc nhanh số liệu, so sánh các lựa chọn, phương án với nhau. Bởi vì những bài ĐỒ THỊ - SỐ LIỆU thì có ai hỏi về nội dung bài, ý tác giả, hàm ý gì đâu.

Họ chỉ hỏi về CON SỐ mà thôi. Vì thế, việc đọc nhanh theo kiểu nắm "nội dung đại khái" hầu như không có mấy tác dụng. Chiến lược với những bài ĐỒ THỊ - SỐ LIỆU phải là lướt nhanh và nắm bắt con số, tức là nắm bắt "TIỂU TIẾT" chứ không phải nắm "ĐẠI Ý".

Rèn luyện năng lực PHÁN ĐOÁN