"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2017

Hướng tới kì thi JLPT: Chiến lược thi nghe hiểu (CHOUKAI) và 3 BÍ QUYẾT nghe hiểu

Sắp tới kỳ thi JLPT nên tôi trình bày bí quyết thi phần nghe ở đây. JLPT là kỳ thi năng lực tiếng Nhật, tên chính thức là thế, nhưng tôi thích gọi là "thi Nô" hơn, tức là kỳ thi "Nô" lệ tiếng Nhật.

Bạn đã sẵn sàng thi "Nô" lệ tiếng Nhật chưa?

Việc học và thi nghe hiểu tiếng Nhật ở VN thường không tốt. Lý do là vì mọi người quá chú trọng việc ... luyện nghe. Luyện nghe thì tốt thôi, nhưng hiếm ai luyện nghe mà nghe tốt lên. Mà luyện nghe lại tốn thời gian khủng khiếp. Ai mà có thời gian nhiều thế chứ.

Hơn nữa, âm thanh khi thi ở VN còn không tốt, bị vỡ âm, vỡ tiếng, "vỡ trận" (theo ngôn từ khi người ta thất bại nhưng không muốn nhận trách nhiệm mà đổ cho quần chúng xung phong thái quá ^^). Khi thi có tiếng chó sủa, tiếng karaoke, tiếng người cãi nhau là chuyện thường. Nên càng cần có bí quyết phán đoán ở bên dưới.


Thật ra, để nghe hiểu tốt thì cần thiết phải có yếu tố sau:

Vốn từ vựng tốt.
Phát âm tốt.

Học sinh VN khi học tiếng Nhật thường phát âm sai vì có cả phong trào dạy và học phát âm tiếng Nhật kiểu VN. Không phát âm đúng thì thường không nghe được. Đặc biệt là mọi người thường phát âm sai âm ngắn và âm dài.

Vì thế, tại lớp Cú Mèo Saromalang thì thường luyện phát âm bên cạnh học từ vựng hàng ngày.

Thật ra thì tôi hiếm khi luyện nghe. Vì chỉ buồn ngủ thôi. Tôi chỉ luyện từ vựng và phát âm sao cho chuẩn. Đây mới là cách học đúng. Vẫn có rất nhiều bạn trả tiền để luyện nghe, luyện hội thoại nhưng phát âm thì vẫn sai như thường. Như thế chỉ tốn tiền và thời gian.

Dưới đây là cách luyện nghe hiểu tại lớp Cú Mèo. Có 3 bí quyết dưới đây.

Thứ Năm, 22 tháng 6, 2017

Hướng tới kỳ thi "Nô" JLPT: Chiến lược thi đọc hiểu (DOKKAI) tốt là gì?

Phần đọc hiểu (読解 Dokkai) có lẽ là phần khó nhất trong kỳ thi Năng lực Nhật ngữ (JLPT). Việc làm không tốt phần đọc hiểu có thể dẫn tới hai hậu quả chính:

Hậu quả 1: Điểm đọc hiểu thấp dẫn tới toàn bài thấp điểm không đủ đậu.
Hậu quả 2: Điểm đọc hiểu bị liệt (không được 19/60 điểm)

Dù là cấp độ nào thì đọc hiểu cũng chiếm 60 điểm trên tổng số 180 điểm mặc dù số câu thường khá "ít". So với phần "Chữ - Từ vựng" (文字・語彙 Moji - goi) khoảng hơn 30 câu, phần ngữ pháp khoảng hơn 20 câu thì đọc hiểu thường chỉ tầm 10 câu. Mỗi câu trị giá tới khoảng ... 6 điểm.

Ngoài ra, đọc hiểu sẽ làm tốn rất nhiều thời gian của bạn, khiến điểm các phần khác cũng bị ảnh hưởng.

ĐỌC NHANH là tối cần thiết để thi đọc hiểu

Vậy chiến lược đọc hiểu thế nào?

Đại đa số các bạn đi thi thường có chiến lược: Đọc câu hỏi trước rồi mới đọc bài. Theo tôi thì đây chỉ là LÝ THUYẾT SUÔNG. Nghe có vẻ tốt thì đúng hơn là tốt. Bởi vì đọc xong câu hỏi bạn vẫn không hiểu nội dung bài và vẫn phải đọc bài đọc ... từ đầu. Nghĩa là bạn sẽ tốn thời gian hơn cả làm bài kiểu truyền thống  tức là "Đọc đề => Đọc câu hỏi => Giải đề".

Để thi phần đọc hiểu tốt thì quan trọng là phải HIỀU NỘI DUNG BÀI ĐỌC NÓI VỀ GÌ trước. Do đó, đọc câu hỏi trước thường không có mấy tác dụng vì không giúp bạn phán đoán gì được về bài đọc.

Do đó, tại lớp Cú Mèo Saromalang thì tôi cho các bạn luyện tập ĐỌC NHANH tức là 速読 SOKUDOKU. Để làm bài thi tốt thì phải luyện cách đọc nhanh và tôi áp dụng cho mọi lớp Cú Mèo mọi trình độ. Bí quyết đi thi của tôi không phải là đọc câu hỏi trước, mà là ĐỌC NHANH. Và để thực sự đọc nhanh được thì các bạn cần LUYỆN TẬP (PRACTICE). Đây không phải là lý thuyết suông.

Bởi vì có nhiều dạng bài đọc hiểu khác nhau nên mỗi dạng cần phải đọc nhanh theo cách hơi khác nhau. Tôi ví dụ bài đọc về HÌNH VẼ - SỐ LIỆU thì bạn vẫn phải lướt hầu như toàn bài nhưng bí quyết là đọc nhanh và SO SÁNH. Đọc nhanh ở đây là đọc nhanh số liệu, so sánh các lựa chọn, phương án với nhau. Bởi vì những bài ĐỒ THỊ - SỐ LIỆU thì có ai hỏi về nội dung bài, ý tác giả, hàm ý gì đâu.

Họ chỉ hỏi về CON SỐ mà thôi. Vì thế, việc đọc nhanh theo kiểu nắm "nội dung đại khái" hầu như không có mấy tác dụng. Chiến lược với những bài ĐỒ THỊ - SỐ LIỆU phải là lướt nhanh và nắm bắt con số, tức là nắm bắt "TIỂU TIẾT" chứ không phải nắm "ĐẠI Ý".

Rèn luyện năng lực PHÁN ĐOÁN

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2017

Cái "kích ka kê" nào?

Cách sử dụng mẫu ngữ pháp JLPT N2 きっかけに KIKKAKE NI

Ví dụ: 英語が好きになるきっかけ
病気をきっかけに酒をやめた。
ひっこしをきっかけとして多くの古い本を捨てた。
日本に来たのは、どんなきっかけですか。

Người ta thường dịch KIKKAKE là nhân dịp, nhân cơ hội, nhân thời cơ nhưng dịch như thế không chuẩn lắm và rất dễ làm sai khi đi thi.

子供が生まれたのをきっかけに離婚した。

Tóm lại thì KIKKAKE là gì? Đây không thể dịch là "nguyên nhân", hay "nguyên nhân chính".

Bạn không thể dùng KIKKAKE để hỏi "Lý do gì mà anh tới Nhật Bản?" được. Vì KIKKAKE không phải là lý do.

KIKKAKE đúng ra là giọt nước tràn ly, cái cơ sự cuối cùng để điều gì diễn ra.

Đúng ra thì phải nói thế này:

をきっかけに日本に来たんですか。
Cơn gió nào đã đưa anh tới Nhật Bản?

KIKKAKE giống như là "cò súng" (引き金 HIKIGANE) mà thôi, không phải là nguyên nhân chính.

Ví dụ, bạn muốn tới Nhật từ lâu nhưng chần chừ mãi. Rồi có người bạn nhiệt huyết rủ bạn sang Nhật thế là bạn đi. Đây mới gọi là KIKKAKE.

KIKKAKE phải là sự việc cuối cùng, có thể rất nhỏ, khiến bạn làm một việc gì đó trọng đại. Còn nguyên nhân chính thật ra đã có từ lâu nhưng chưa chín muồi chẳng hạn.

Ví dụ bạn nghèo quá và biết như thế không ổn nên quyết tâm làm giàu. Nhưng bạn vẫn chưa thực sự làm gì cho tới khi gia đình bạn đi viện mà bạn không xu dính túi. Vậy thì nguyên nhân chính của việc quyết tâm làm giàu là do bạn nghèo, nhưng cái KIKKAKE là sự kiện thực tế đau lòng là gia đình bạn đi viện mà bạn không xu dính túi.

Vậy thì tóm lại KÍCH KA KÊ dịch thế nào cho đúng?

Theo tôi thì nên dịch là CƠ SỰ.

きっかけ = CƠ SỰ

Cơ sự nào mà bạn đã tới Nhật?

"Cơ sự" thì chữ "sự" (事) là sự việc và "cơ" (機) là "thời cơ, cơ hội, cơ duyên". "Cơ sự" tức là sự việc nào mà trở thành cơ duyên để bạn làm một việc trọng đại khác.

Nhân tiện, cơ sự nào mà bạn lại đọc bài viết này nhỉ?

Phải chăng vì bài đăng trên FB Page, sau đó hiện trên Wall của bạn, và bạn lại đang thắc mắc về KÍCH KA KÊ và bạn vô đây đọc?

Còn cái "cơ sự" để tôi viết bài này là vì tại lớp Cú Mèo N2 có học ngữ pháp về KÍCH KA KÊ nhưng chưa dịch xuôi nên phân tích bàn luận tại đây. Vì nếu dịch không đúng, làm bài tập thường bị sai. Bí quyết để làm bài đúng là phải dịch đúng.
Takahashi

Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

Vì sao câu cuối cùng của phần thi nghe JLPT lại là "Kore de choukai shiken WO owarimasu"?

Câu cuối cùng trong phần thi nghe JLPT Nx thường bao giờ cũng là:

これで、聴解試験終わります。

Trước hết với người học sơ cấp thì sẽ kỳ vọng là 聴解試験終わります。 Lý do là vì động từ 終わる・終わります là TỰ ĐỘNG TỪ, nên thường đi với が。
>>Phân biệt tự động từ và tha động từ

Nếu dùng trợ từ を thì lẽ ra phải dùng với tha động từ 終える (OERU, kết thúc từ gì, làm xong thứ gì) và câu trên sẽ thành: これで、聴解試験を終えます

Hoặc là dùng dạng sai khiến (khiến cho kết thúc): これで、聴解試験を終わらせます

Phải chăng kỳ thi JLPT đã sai ngữ pháp ngay ở phần thi nghe?

Câu hỏi của Saromalang tuần này: Vì sao lại dùng trợ từ WO mà không dùng trợ từ GA?

Đáp án sẽ đăng tại đây sau 1 tuần.

Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2017

[Ngữ pháp JLPT N2] Phân biệt mẫu ngữ pháp ごとに và おきに

Hướng dẫn sử dụng mẫu ngữ pháp ごとに(毎に) và おきに
Đối tượng: JLPT N2
Cách dùng:
[Số lượng] ごとに(毎に)
[Số lượng] おきに

Ngữ nghĩa và cách dịch:
ごとに = cứ mỗi, cho mỗi ...
おきに = cứ cách ...

Ví dụ:
① 4mごとに木を植える = trồng cây cứ mỗi 4m (cho mỗi 4m)
② 4mおきに木を植える = trồng cây cách mỗi 4m (cứ mỗi 4m)

Cách phân biệt ごとに và おきに

Hãy xem sơ đồ này:


Tóm lại thì 4mごとに thì là trồng cây cho mỗi 4m, nên mỗi cây cách nhau 4 mét.
Còn 4mおきに thì là "trồng cây CÁCH MỖI 4m" nên có hai cách hiểu:
Cách 1: Các cây cách nhau 4 mét.
Cách 2: Các cây cách nhau 5 mét.

Lý do là "cách mỗi 4 mét" nghĩa là bỏ qua 4 mét và trồng cây ở mét thứ 5, sau đó lại lặp lại.

Ví dụ:
2年おきに海外旅行をします。
Tôi du lịch nước ngoài cách mỗi 2 năm.

Câu này có thể hiểu là các lần du lịch nước ngoài cách nhau 3 năm hoặc 2 năm. Sở dĩ cách nhau 3 năm là hiểu là nếu năm nay du lịch thì năm sau và năm kế tiếp không đi và năm thứ 3 thì lại đi.

Do đó, để tránh hiểu lầm thì nên nói là:
3年ごとに海外旅行をします。
Tôi du lịch nước ngoài cho mỗi 3 năm.

VÍ DỤ 例文

大学行きのバスは10分おきに出ている。
この道路には10mおきにポプラが植えられている。
この薬は二時間おきに飲んでください。

一年おきに大会が開かれる。(2年に1回)
一年ごとに大会が開かれる。(1年に1回)


Aさん「この行事は、来年から2年おきに行います。」
Bさん「3年に1回ということですね?」
Aさん「いえ。2年に1回です。2年ごとに開催します。」


Aさん「5分おきにベルを1分間鳴らしてください。」
Bさん「5分に1回鳴らせばいいのですね?」
Aさん「いえ。1分鳴らしたら5分休みます。6分に1回鳴らすということです。」

私の団地では、一ヶ月毎に掃除当番がまわってきます。
この雑誌は、一ヶ月おきに発売されています。
この歩道には五メートル毎に(⇔おきに)木が植えられている。
三分おきに(⇔毎に)電車が通ります。
一雨毎に暖かくなります。
Takahashi

Diễn đạt tần suất "một tuần mấy lần vv" trong tiếng Nhật

Hướng dẫn sử dụng mẫu ngữ pháp "1 tuần X lần, X tuần 1 lần"

Đối tượng: Ngữ pháp sơ cấp (JLPT N5, N4)

Công thức: [Time Duration] にX回

Ở đây 回(かい、hồi) là chỉ "lần". Trong tiếng Nhật "số lần" sẽ nói là 回数(かいすう、hồi số)。

Ví dụ:
週に2回泳ぎに行く  đi bơi 2 lần một tuần
月に1回映画を見に行く đi xem phim 1 lần mỗi tháng
二週間に一回外食する đi ăn ngoài hai tuần một lần
二年に一回海外旅行する hai năm du lịch nước ngoài một lần
年に2回実家に帰る một năm về quê hai lần

Ở đây thì 周 (một tuần) đọc là しゅう、月 đọc là つき và 年 đọc là ねん。
Nếu nhiều tuần (2 tuần trở lên) thì dùng 週間。

Đôi khi nói là 週2回 thay cho 週に2回。
Cách đếm với 回:
一回(1回) いっかい
二回(2回) にかい
三回(3回) さんかい
四回(4回) よんかい
五回(5回) ごかい
六回(6回) ろっかい
七回(7回) ななかい
八回(8回) はっかい
九回(9回) きゅうかい
十回(10回) じゅっかい

Lưu ý là đếm 回 đồng âm với đếm 階(かい、giai) đếm lầu trừ:
三回(さんかい) ba lần
三階(さんがい) lầu ba, tầng ba

Các trạng từ chỉ tần suất hành động

時々(ときどき) THỈNH THOẢNG
ときどきメキシコ料理に行く。

たまに THI THOẢNG
彼にたまに会う。

たまたま ĐÔI LÚC
Láy của たまに。
彼はたまたま遅くまで仕事をする。

あまり・・・ない KHÔNG ... MẤY
私はあまりテレビを見ない。

ぜんぜん(全然)・・・ない HOÀN TOÀN KHÔNG
彼女は全然話してくれなかった。

何回か(なんかいか) VÀI LẦN
彼とは何回か話したことがある。

常に(つねに) THƯỜNG XUYÊN
事故に対して常に心がけよう。

いつも LUÔN LUÔN
いつもニコニコだね。

めったに(滅多に) HIẾM KHI (ngữ pháp N2)
この辺はめったに雪が降らない。

ろくに HẦU NHƯ CHẲNG (ngữ pháp N2)
彼はろくに勉強しない。

Tạm thời thì vậy đã chắc là đã đủ dùng.
Takahashi

Đưa ra đề xuất, đề nghị trong tiếng Nhật với Vば (Vたら) và Xでも

Chúng ta muốn đưa ra một đề xuất, đề nghị hành động cho đối phương thì sẽ dùng mẫu Vば? hay Vたら? kết thúc câu với dấu hỏi mặc dù Vば và Vたら nghĩa là "nếu (đã)".


Ví dụ: Nếu bạn mở lòng mình ra thì sao? (đề xuất, đề nghị hành động)

心を開けば?
Kokoro wo hirakeba?
Bạn mở lòng thì sao?

Câu này nói đầy đủ là:
心を開けばどうですか。
Nếu bạn mở lòng mình ra thì thế nào?
心を開けばいかがですか。
(Trang trọng) Nếu quý bạn mở lòng mình ra thì sao ạ?

Nếu muốn đề xuất "thử mở lòng" thì thêm chữ "thử" vào:

心を開いてみれば
Kokoro wo hiraite mireba?

心を開いてみたら
Kokoro wo hiraite mitara?

心を開いてみては
Kokoro wo hiraite mitewa?


Bạn có thể dùng dạng Vば, Vたら(Vだら) hay Vては với trợ từ は。

Bạn có thể áp dụng đại trà khi muốn đề xuất, đề nghị hành động:

やってみたら?
=やってみたらどう? or やってみたらどうですか? Nếu thử làm thì thế nào?

勉強を頑張れば?
彼女に告白してみたら?
テストを受けてみては?

Đưa ra đề xuất lựa chọn với Xでも

お茶でも飲む?
OCHA DEMO NOMU?
Bạn muốn uống chẳng hạn trà không?

Câu này giống như: お茶とかでも飲む? Bạn muốn uống chẳng hạn mấy thứ như trà không? hay お茶とか飲む? Bạn muốn uống mấy thứ như trà không?

Ở đây là đưa ra ví dụ đề xuất chứ không hỏi trực tiếp là uống trà. Bạn cũng có thể dùng でも với trạng từ chẳng hạn:

旅行にでも行きませんか。
Bạn có muốn cùng tôi đi ví dụ như du lịch không?

Ví dụ áp dụng:
散歩にでも行かない?
公園ででも散歩しましょう。
ゲームでもぼくとやらない?
僕とでも付き合わない?
"Em có muốn quen chẳng hạn như anh không?"

でも開いてみたら?

Bạn cũng nên check cả SORETOMO = "Phụ nữ VN đẹp HAY LÀ tôi bị ảo giác?" ^^
So sánh Xでも với それとも
SORETOMO là đưa ra một số lựa chọn để chọn MỘT từ hai hay nhiều lựa chọn.
Còn Xでも thì chỉ đề xuất một lựa chọn (do bạn nghĩ là phù hợp nhất, tốt nhất vv).

ねえ、君、日本語でも勉強しないか。それとも、でたらめなことばかりやりつづけるか。
Takahashi

Thứ Hai, 5 tháng 6, 2017

Phân biệt "GIA ĐÌNH" (家庭) và "GIA TỘC" (家族)

Học ngữ pháp tiếng Nhật rất hay, giúp bạn có thể nói văn vẻ, trang trọng, hoặc đúng sắc thái và giúp bạn diễn đạt tiếng Việt hay hơn nhiều. Tôi là người diễn đạt tiếng Việt tốt, có khả năng dùng "bạo ngôn" (暴言) hay châm biếm đả kích một cách chua cay. Thực sự là tôi có thể thể hiện sự khinh miệt một cách nhẹ nhàng và trang trọng. Đây là mục tiêu của việc học ngoại ngữ nói riêng và ngôn ngữ nói chung: Để diễn đạt chính xác điều bạn nghĩ.

 Do đó, bạn sẽ sống hạnh phúc hơn vì biết mình muốn gì - từ trong tiềm thức. Vì ngôn ngữ, cử chỉ, hành động chỉ là thể hiện bề ngoài của tiềm thức bên trong.

Nhưng vấn đề là ngữ pháp tiếng Nhật thì có mấy để học đâu. Vèo một cái bạn học hết 1000 mẫu là hết thứ để học rồi. Niềm vui tiếp theo, và gần như vô tận, là học TỪ VỰNG tiếng Nhật.

Không phải học lên trung, cao cấp mới cần mà ngay từ sơ cấp cũng phải học cho vững chắc. Tại lớp Cú Mèo thì tôi rất chú trọng giảng giải ngữ nghĩa, nguồn gốc từ vựng. Cách làm của tôi không khác gì mấy tại các trường học Nhật Bản.

Ví dụ hôm nay là các từ vựng sơ cấp:
家族 [KAZOKU, GIA TỘC]
家庭 [KATEI, GIA ĐÌNH]

Phân biệt GIA ĐÌNH 家庭 và GIA TỘC 家族 trong tiếng Nhật

家庭 [KATEI, GIA ĐÌNH] gồm có chữ GIA 家 (いえ, nhà) và ĐÌNH 庭 (にわ, sân vườn). Nghĩa đen là gồm có "nhà" và "vườn" và nghĩa bóng là "thuộc phạm vi trong gia đình". Ví dụ:

家庭問題 [gia đình vấn đề] = vấn đề gia đình, vấn đề về gia đình (thuộc phạm vi gia đình)
家庭教育 [gia đình giáo dục] = giáo dục từ trong gia đình
家庭教師 [gia đình giáo sư] = gia sư (giáo viên dạy trong gia đình)

Còn 家族 [KAZOKU, GIA TỘC] gồm có chữ GIA 家 (いえ, nhà) và chữ TỘC 族 (ゾク, tộc). TỘC có nghĩa là chỉ những người có cùng tính chất, thuộc tính, đặc điểm giống nhau:

民族 MINZOKU dân tộc
部族 BUZOKU bộ tộc
釣り族 TSURIZOKU hội những người mê câu cá
暴走族 BOUSOUZOKU hội những người mê đua xe
窓際族 MADOGIWAZOKU "những người ngồi bên cửa sổ (bị đẩy ra khỏi hệ thống công ty chỉ tới công ty và nhận lương mà không thực sự làm việc)"

Do đó, 家族 [KAZOKU, GIA TỘC]  chỉ những người giống nhau sống cùng một nhà nên có ngữ nghĩa là "người thân trong gia đình (người nhà)".

Ví dụ:
私の家族は四人です。父、母、妹と私です。
Gia đình tôi có bốn người. Cha, mẹ, em gái và tôi.

日本に家族がいますか。
Bạn có người nhà ở Nhật không?

Trường hợp này không dùng 家庭 GIA ĐÌNH.

Ngoài ra, nếu mà nói là 家族問題 [gia tộc vấn đề] thì lại là "vấn đề (về) người thân trong gia đình" chứ không phải là "vấn đề trong gia đình".

Hoặc không ai nói là "gia tộc giáo sư" vì như thế thì sẽ thành "giảng viên người thân trong gia đình" mất.

Ngoài ra "họ hàng" (relatives) trong tiếng Nhật gọi là 親戚 SHINSEKI [THÂN THÍCH]. Còn có quan hệ huyết thống thì gọi là 血縁 KETSUEN [HUYẾT DUYÊN].

POINT KHI DẠY VÀ HỌC TỪ VỰNG TIẾNG NHẬT

☑ Phải học NGUỒN GỐC, ngữ nghĩa theo nghĩa đen. Từ đó, suy ra nghĩa bóng của từ vựng.
☑ Hiểu đúng ý nghĩa của từ vựng để có thể sử dụng, VẬN DỤNG đúng.
☑ Phân biệt được các từ có ngữ nghĩa gần giống nhau, tức là HỌC THEO NHÓM TỪ.

Khi nào có thể học từ vựng mà vui vẻ thì mới có thể tới được miền đất hứa trong việc học tiếng Nhật được. Và khi đó việc thành chính quả chỉ là vấn đề thời gian.
Takahashi

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

Sau kì thi JLPT lớp Cú Mèo sẽ học gì và học như thế nào?

Vậy là hơn một tháng nữa là sẽ thi JLPT kỳ tháng 7/2017. Hiện tại các lớp Cú Mèo đã ôn luyện đọc hiểu trong tháng 5, hiện vẫn đang ôn luyện đọc hiểu một chút và tập trung vào luyện nghe hiểu. Điều quan trọng là CÁCH ĐỌC HIỂU, CÁCH NGHE HIỂU và THÁI ĐỘ (姿 SUGATA) của bạn đối với những việc này. Bạn có thể đọc không hiểu, nghe không hiểu mấy những hãy cố gắng làm đúng.

Sau kỳ thi JLPT thì lớp học có tiếp tục không và sẽ học gì?

Có. Vì kỳ thi JLPT chỉ là một phần của việc học tiếng Nhật. Bạn thi xong không phải là như thế là học xong, dù bạn có đậu chăng nữa. Bởi vì điều quan trọng chính là VỐN TỪ của bạn.

VỐN TỪ = NGỮ NGHĨA + SẮC THÁI + VẬN DỤNG

Thật ra, luyện thi JLPT chỉ là để ĐỐI PHÓ với kỳ thi JLPT mà thôi. Chứ không phải là luyện xong thì bạn giỏi ngay, không chừng 1 tháng sau lại quên ý chứ. Việc học trên lớp Cú Mèo vẫn là học hiểu ngữ nghĩa, sắc thái và cách vận dụng. Tất nhiên là vì sắp thi nên lớp Cú Mèo sắp xếp luyện ĐỌC HIỂU, NGHE HIỂU và sẽ LÀM ĐỂ THI THỬ (trong tháng này) để làm sao tối đa hóa điểm số.

Sau kì thi thì lớp Cú sẽ học để nâng cao vốn ngữ pháp, từ vựng như bình thường. Tôi tin rằng lớp Cú là nơi học ngữ pháp và từ vựng tốt nhất, và VỐN TỪ là vương đạo (bá đạo) trong việc học bất kỳ ngôn ngữ nào. Bạn phải vận dụng được.

Ví dụ cách phân biệt KOWAII và OSOROSHII (đáng sợ), phân biệt TANOSHII và URESHII (vui, vui mừng) chẳng hạn. Đây là sắc thái của từ vựng.

Ngoài ra còn CÁCH DỊCH từ vựng ví dụ phân biệt 祈る INORU với 願う NEGAU với 祈願する (cầu nguyện), 念願する.

Vốn từ không phải là số từ bạn BIẾT mà là số từ bạn có thể VẬN DỤNG

Đặc biệt là trạng từ chẳng hạn. Ví dụ cách vận dụng 尤も、いずれ thì không dễ nếu không hiểu đúng sắc thái và dịch đúng.

Bạn có thể vận dụng các từ sau không:
完全に忘れる
すっかり忘れる

Hoặc là phân biệt sắc thái nhóm từ gần giống như 直ぐに SUGUNI, 直に JIKANI, 直ちに TADACHINI, 直接に CHOKUSETSU NI.

Khi học lên tới N3 trở lên thì có rất nhiều từ nhìn có vẻ rất gần nghĩa nhau chỉ khác nhau chút ít. Sự khác nhau chút ít này gọi là SẮC THÁI. Muốn vận dụng được từ vựng thì phải hiểu đúng NGỮ NGHĨA và SẮC THÁI của nó.

Do đó, lớp Cú Mèo vẫn tiếp tục luyện tập (practice) thường xuyên để nâng cao vốn từ vựng với các bạn có mong muốn học tiếp.

Tiếp tục luyện đề từ vựng, ngữ pháp và chủ đề nâng cao

 Lớp Cú vẫn tiếp tục luyện ngữ pháp, từ vựng bình thường. Các bạn không học ngữ pháp tại các session trước vẫn có thể luyện và giải đáp ngữ pháp hàng ngày. Các bạn đã học rồi thì sẽ luyện tập để có thể VẬN DỤNG mẫu ngữ pháp đã học.

Ngoài ra, lớp Cú có các chủ đề nâng cao tùy lúc nếu kịp biên soạn. Ví dụ như bài tập dịch đơn giản, dịch bài hát, đọc hiểu bằng sách vv.

Về luyện từ vựng thì cũng sẽ có thể luyện theo chủ đề (TOPIC) và mỗi ngày sẽ luyện một số từ nhất định.

Và điều quan trọng là tiếp tục LÀM ĐỀ TRẮC NGHIỆM vì đây là cách nâng cao vốn từ nhanh nhất.

Học theo session và có nghỉ ngơi, giải lao

Vì đã thi xong rồi nên lớp Cú sẽ học theo nhịp độ bình thường, tập trung vào việc HIỂU và NHỚ LÂU DÀI, vì không còn phải luyện thi gấp (ĐỌC HIỂU, NGHE HIỂU, GIẢI ĐỀ) nên thời gian sẽ dư giả hơn và các bạn học viên sẽ đỡ mệt hơn.

Việc học sẽ học theo session 10 buổi và có giải lao sau mỗi session, hoặc giải lao giữa chừng.
Xem thêm thông tin tại Thông tin lớp học.
Takahashi

Phân biệt sắc thái từ vựng lớp Cú Mèo N3

Học từ vựng là MÓN CĂN BẢN trong học bất kỳ ngôn ngữ nào. Mục đích của học từ vựng là HIỂU SẮC THÁI và có thể VẬN DỤNG được. Luyện ngữ pháp, đọc hiểu, nghe hiểu (hiện đang thực hiện) chỉ là để đi thi, còn nền tảng thì vẫn là học từ vựng và cách vận dụng.

Hôm nay chúng ta phân biệt sắc thái một số nhóm từ:

Nhóm dọn dẹp, vệ sinh
整理する
(整頓する)
片付ける
掃除する
清掃する

Nhóm lưu hành, thịnh hành
流行する(りゅうこうする)
流行る(はやる)
盛んになる(さかんになる)
ブームになる

Phân biệt TANOSHII và URESHII
楽しい vs. 嬉しい
楽しい映画 khác うれしい情報

Phân biệt KOWAI và OSOROSHII
犬が怖い。怖い人。怖い生き物。
恐ろしい事故。恐ろしい経験。など

Phân biệt cửa, cổng
戸(と)
扉(とびら)
門(もん)
正門(せいもん)
玄関(げんかん)
入口(いりぐち)
口(くち)

Sắc thái nhóm từ CẦU, MONG, ƯỚC
祈る(いのる)
願う(ねがう)
祈願する(きがんする)
念願する(ねんがんする)

Đặc biệt là phân biệt INORU và NEGAU.

Việc học tiếng Nhật sẽ THÀNH CHÍNH QUẢ khi mà chúng ta tìm được niềm vui trong việc học từ vựng (ngữ nghĩa, sắc thái, cách dịch, vận dụng).
Lớp Cú Mèo

Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

Cách dùng từ "chính quả"

"Chính quả" có hán tự là 正果 [chính quả] nhưng trong tiếng Nhật thì lại là 証果 [chứng quả] và đọc là しょうか。

"Chính quả" là kết quả đạt được nhờ việc tu hành. Tuy nhiên, tôi dùng từ "chính quả" theo nghĩa khác.

"Chính quả" là mục tiêu mà bạn muốn đạt tới khi bạn thực hiện hành động, kế hoạch nào đó và "thành chính quả" là khi mục tiêu đó thành hiện thực.

Ví dụ, khi nướng cá thì phải tự hỏi là cá đã thành CHÍNH QUẢ hay chưa, tức là cá có chín và có ngon, ăn được hay không.

Cá đã được nướng thành CHÍNH QUẢ hay chưa?

Làm sao biết cá thành chính quả hay chưa? Chỉ có cách là ăn thử thôi. Và quả thực là cá đã thành chính quả. Nếu bạn có mục tiêu hợp lý và làm đúng cách thì sẽ thành chính quả cả thôi.

Trong từ "chính quả" 正果 thì "chính" là đúng, tích cực, tốt, chuẩn.
Ví dụ:
真正 chân chính
正当 chính đáng
正解 chính giải [lời giải đúng]
正義 chính nghĩa

Còn "quả" là kết quả:
結果 kết quả
因果 nhân quả

"Chính quả" 正果 có thể hiểu là "kết quả tốt, kết quả tích cực".

Ví dụ có thể hỏi bạn bè là: Việc học tiếng Nhật của bạn đã thành CHÍNH QUẢ chưa?

Tức là có thi đậu cấp độ Nx mà ban đầu mình hướng tới hay chưa.

修成正果 tu thành chính quả = tu luyện đạt được kết quả, mục đích

Tóm lại thì nếu bạn đạt được mục tiêu một cách tích cực thì gọi là "thành chính quả". Ngược lại, nếu bạn thất bại trong việc đạt được mục tiêu thì gọi là "không thành chính quả".

Ví dụ:
Tôi đã bỏ công học cách nướng cá nhưng cá bị khô nên không thành chính quả.

Vì mục tiêu của việc nướng cá là để ăn ngon, và bạn ăn không được hay không ngon thì có nghĩa là cá đã không thành chính quả. Việc học tiếng Nhật cũng vậy, nếu bạn định thi đậu Nx mà lại không đậu thì gọi là việc học đã không thành chính quả.

Trong tiếng Nhật thì lại gọi là "chứng quả" 証果 và đừng nhầm thành "quả trứng" nhé. Bạn có thể nói là thành "chứng quả" cũng được nhưng dùng "chính quả" thì vẫn chuẩn hơn.

Ghi nhớ: 正果 [chính quả] không phải là "quả chín". 証果 [chứng quả] không phải là "quả trứng".

Nhân tiện, bạn nghĩ bài viết này đã thành CHÍNH QUẢ hay chưa? Xin hãy comment bên dưới.
Takahashi

"Giác ngộ" nghĩa là gì?

Trong tiếng Nhật cũng có chữ "giác ngộ" 覚悟 và đọc là かくご。

GIÁC 覚める SAMERU
覚える OBOERU nhớ
(目が)覚める SAMERU tỉnh giấc

Hay trong chữ ghép như 感覚 cảm giác.

NGỘ 悟る SATORU
Chữ "ngộ" 悟 nghĩa là "ngộ ra, nhận thức được (chân lý vv)".
悟り SATORI sự giác ngộ
悟る SATORU giác ngộ

Tóm lại thì "giác" là hiểu ra, biết được, thức tỉnh, còn "ngộ" là nhận thức được.

Vậy "giác ngộ" là gì?

Đó là khi bạn hiểu và nhận thức được điều gì đó. Một trong các ý nghĩa của "giác ngộ" là bạn hiểu được khó khăn, nguy hiểm, thất bại, vv và chuẩn bị sẵn tinh thần cho nó. Ví dụ

全てを失う覚悟でお酒を大いに飲む。
Uống rượu nhiều với giác ngộ sẽ mất tất cả mọi thứ.

Mất gia đình, sự nghiệp, danh dự, ... tất cả mọi thứ, kể cả nhà và xe. Nhưng uống thì vẫn uống thôi. Chỉ cần giác ngộ là được chứ sao. Chỉ vì mất mọi thứ mà lại không uống nữa ư?

失敗の覚悟で試験を受けてみる
thử đi thi với giác ngộ là sẽ thất bại

Hoặc theo từ điển Daijisen thì:
苦労は覚悟のうえだ
Khổ cực thì tôi đã giác ngộ xong (tức là hiểu là chắc chắn sẽ phải khổ cực)

断られるのは覚悟している
Việc (sẽ) bị từ chối thì tôi đã giác ngộ (đã hiểu, đã chấp nhận)

"Giác ngộ" khác với "chấp nhận" (受け入れる UKEIRERU)

Ở chỗ: Giác ngộ là bạn hiểu và chấp nhận chuyện sẽ xảy ra, còn chấp nhận là bạn hiểu và chấp nhận chuyện ... đã xảy ra ví dụ như chấp nhận thất bại.

Bạn phải thất bại rồi thì mới CHẤP NHẬN.
Nhưng bạn chưa cần thất bại để có thể GIÁC NGỘ.

Ví dụ thế này:

断られる覚悟で告白する
tỏ tình với giác ngộ sẽ bị từ chối

Tôi hi vọng là bạn đã giác ngộ được về chữ giác ngộ 覚悟 qua bài viết này.

"Giác ngộ" không phải là từ ngữ riêng của Phật giáo mà là từ chung trong cuộc đời. Dù bạn làm điều gì trong cuộc đời thì cũng cần phải giác ngộ đầy đủ. Nếu bạn có mục tiêu gì trong cuộc đời, ái tình, tiền bạc, công danh, sự nghiệp, ảo mộng, hư danh, vv thì quan trọng là hãy kiên trì làm nó trong nhiều năm cho tới khi thật sự giác ngộ. Vì bạn sẽ giác ngộ được thôi. Sau khi giác ngộ thì mọi thứ dễ hơn nhiều, và cũng phải giác ngộ là khó khăn mà bạn trải qua là cần thiết để bạn có thể giác ngộ. Mọi người đều cần giác ngộ rằng con đường đi tới miền đất hứa có ý nghĩa hơn là bản thân miền đất hứa vì niềm vui nằm ở trên đường đi chứ không nằm ở miền đất hứa.

Vì khi tới được miền đất hứa thì bạn đã là con người khác. Nếu bạn là con người cũ thì bạn sẽ không bao giờ giác ngộ, và không bao giờ cảm nhận được miền đất hứa. Làm sao tới được miền đất hứa trong việc học tiếng Nhật thì tôi có nói tại lớp Cú Mèo và quan trọng là PRACTICE thì mới giác ngộ được.
Takahashi

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

[Từ vựng ngữ pháp] SORETOMO "HAY LÀ", VÀ, HOẶC và LIỆT KÊ trong tiếng Nhật

Ví dụ thế này: "Phụ nữ Việt Nam đẹp, hay là tôi bị ảo giác?"

Trước đây S đã có bài Và, Hoặc, Liệt kê trong tiếng Nhật. Đây là phiên bản tiến hóa.

Cũng tương tự bạn có thể hỏi là "Bạn uống trà, hay uống cà phê?".

Trường hợp này sẽ sử dụng:

★それとも SORETOMO: "hay là" cho câu hay vế câu [Sơ cấp/N2]

"Phụ nữ Việt Nam đẹp, HAY LÀ tôi bị ảo giác?"
ベトナム女性は美しいのですか、それとも、私は錯覚(さっかく)しているのですか。

Công thức là: Clause 1、それとも、Clause 2。
Hoặc: Clause 1。それとも、Clause 2。
Đối tượng: Từ vựng ngữ pháp Sơ cấp/JLPT N2

Trường hợp này sau câu 1 dùng dấu chấm hay dấu phẩy cũng được.

Bạn uống trà hay uống cà phê?
お茶を飲みますか。それとも、コーヒーを飲みますか。

Trà hay cà phê thì được?
お茶がいい?それとも、コーヒーがいい?

Tồn tại, hay không tồn tại, đó là vấn đề. (Hamlet)
To be, or not to be, that is the question
生きるべきか、それとも、死ぬべきか、それが問題だ。

Cà phê, hay hồng trà?
コーヒーか、それとも紅茶か

Tóm lại thì SORETOMO dùng trong câu hỏi để yêu cầu người nghe chọn một trong hai hay nhiều lựa chọn. Vậy thôi.

VÀ, HOẶC, HAY, và LIỆT KÊ trong tiếng Nhật

★そして hay そうして: VÀ vế câu

Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017

[Ngữ pháp N2] Vねばならない Bắt buộc phải làm gì (Vなければなならない)

Hướng dẫn sử dụng mẫu ngữ pháp Vねばならない Bắt buộc phải làm gì

Đối tượng: JLPT N2
Liệt kê tại Ngữ pháp JLPT Nx
Ý nghĩa và sắc thái: Giống Vなければならない (bắt buộc phải làm gì)
Vねばならない thì dùng trong hoàn cảnh trang trọng, trịnh trọng hơn.
>>[Ngữ pháp N5, N4] Bắt buộc phải làm gì Vnakerebanaranai AND ALIKE

Bạn có thể tham khảo Các dạng NẾU.

人生は短いから、飲まねばならん。
Vì đời rất ngắn nên bắt buộc phải uống. (Cho nó dài ra!)

Ví dụ:
父は危篤に陥ったので帰国をせねばならない。
Cha đã bị bệnh nặng nên tôi buộc phải về nước.
Giống: 父は危篤に陥ったので帰国をしなければならない。

いい成果を出すには、より能力を磨かねばなりません。
Để tạo ra thành quả tốt thì tôi phải mài giũa năng lực hơn nữa.

Tóm lại thì Vねば=Vなければ

する → せねばならない (bất quy tắc)
来る(くる) → 来ねばならない(こねばならない) (bất quy tắc)
行く → 行かねばならない(いかねばならない

Câu ví dụ 例文

人は食わねばならない。
誰もがいつか死なねばならない。

Lưu ý động từ 死ぬ SHINU thì không phải là 死ねば SHINEBA (nếu chết) mà là 死なねば SHINANEBA nhé. Vì しぬ→しなない→しなねば(しななければ)。

泥棒は捕まえられねばならない。
自制できるようにならねばならない。

みんなさん、この文法をよく理解せねばなりませんね。
Takahashi

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

[Ngữ pháp N4, N3] Mẫu ngữ pháp ーように Uống NHƯ THỂ không còn có ngày mai ...

Trong bài này hướng dẫn các mẫu ngữ pháp liên quan tới よう như ように。Nのように。V可能+ようになる。Vdicようになる。Vdicようにする。ーようにN2。 vân vân.

Tóm lại là tất tần tật về よう hay còn được viết hán tự là 様(よう、さま、dạng), ví dụ như 様子(ようす)、多様な(たような)、様々な(さまざまな)... Chán chết!

Điều bạn nên biết thêm là đây là một DANH TỪ nhưng có thể đóng vai trò TRẠNG TỪ thường ở dạng ように。 Nếu bạn không biết loại từ là gì thì xem LOẠI TỪ.

Ngữ pháp N3: Chúng ta hãy uống NHƯ THỂ không còn có ngày mai.
→ 明日がえいえんに来ないように、お酒を飲もう。

Đơn giản vậy thôi, ように nghĩa là "như thể".

Tỏ ra cao thượng như thể mình chẳng bao giờ làm việc xấu
悪いことをしたことのないように上品ぶる

Nếu bạn học những câu văn vẻ thì thường dễ nhớ và dễ đi vào lòng người hơn nhiều. Chán nhất là học câu cú dở quá.

Ngữ pháp N3: Hình như là ...

雪が降ったようだ。 Hình như là tuyết đã rơi.
かれは、留学生のようです。
そのプロジェクトはダメなようです。

まるで夢のようだ。 Hệt như là giấc mơ.
好きな人と結婚できて、まるで夢のようだ。

Suy ra: まるで悪夢のようだ。 Marude akumu no youda. Hệt như là ác mộng.

Ngữ pháp N4: V可能(dic)+ようになる Bắt đầu có khả năng làm gì

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

[Ngữ pháp JLPT N3] ながらも Dẫu vẫn biết rằng (đời không như là mơ nhưng ...)

Hướng dẫn cách sử dụng ngữ pháp N3 ながら(も)

Cách dùng: Aい+ながら(も) → 小さいながらも
Aな+ながら(も) → 貧乏ながらも
Vstem+ながら(も) → 知りながらも

Nếu là danh từ thì N+でありながら(も)。

Ví dụ: Dẫu vẫn biết rằng giữa ảo mộng và thực tế thường có khoảng cách nhưng thành thế này thì thật không ngờ.


幻想と現実との間にギャップがあるものだと知りながらも、こんなになったとは思いがけなかった。

Nếu nói là "Vẫn biết rằng ..." (bỏ "dẫu" đi ) thì có thể đổi thành 知りながら bỏ も đi chẳng hạn.

Không nhất thiết phải có も nhưng có thì văn vẻ hơn. Quan trọng là phải văn vẻ mới dễ đi vào lòng người, và dễ thao túng người khác để phục vụ lợi ích bản thân được!

Nhân tiện, còn có nhiều ví dụ khác như thế này:

タバコが体に悪いと知りながら、つい吸ってしまう。
Vẫn biết thuốc lá không tốt cho sức khỏe nhưng rồi cũng lại hút.

貧乏ながらも、暖かい我が家。
Nhà chúng ta, dẫu vẫn nghèo nhưng ấm áp.

貧乏ながらも、暖かい我が家に勝るところはない。
Không nơi nào hơn nhà chúng ta - nơi dẫu vẫn nghèo nhưng ấm áp.

あの人は体が小さいながらもなかなか力があるね。
努力していながら、失敗を覚悟している。
Dẫu vẫn đang nỗ lực nhưng hiểu rằng sẽ thất bại.

Đây là một mẫu ngữ pháp quan trọng trong cuộc đời. Kiểu như:

Dẫu biết rằng rượu sẽ phá nát cuộc đời nhưng chúng ta hãy uống như thể chẳng còn có ngày mai. Vì chúng ta không phải là nô lệ và bia chỉ dành cho bọn yếu đuối.
Phải làm vài ngụm đã. Dẫu biết rằng càng uống càng khát, dẫu biết rằng nâng chén tiêu sầu sầu lại sầu thêm ... Hãy uống vào lúc vui và ngày đẹp trời như hôm nay!
Takahashi

Cách dịch ngữ pháp V1ながら、V2

Đây là mẫu ngữ pháp Vながら、- ở trình độ JLPT N4. Phần lớn mọi người dịch sai, thậm chí hiểu sai ngữ pháp này. Đây là mẫu ngữ pháp sơ cấp hay bị dịch sai, hay dịch ẩu một cách đáng ngạc nhiên! ^^

Ngữ pháp này KHÔNG phải là "vừa làm gì (V1), vừa làm gì khác (V2)".

Tôi ví dụ:

① 散歩しながら、人を見ます。

Ở đây có 2 hành động: 散歩する sanpo suru = đi dạo
人を見る hito wo miru = ngắm người

Câu này không phải là (A) "Tôi vừa đi dạo vừa ngắm người" và cũng không phải là (B)"Tôi vừa ngắm người vừa đi dạo" vì hai câu này như nhau.

② 人を見ながら、散歩します。

Câu (2) về cơ bản là khác câu (1), đây không phải hai câu đồng nhất ý nghĩa. Còn (A) và (B) thì gần như đồng nhất ý nghĩa.

Trong bài về ngữ pháp Vながら hãy chú ý tới Point 1, khi bạn "散歩しながら、人を見ます。" có nghĩa là bạn thực hiện hành động "ngắm người" trong lúc đang thực hiện hành động "đi dạo", tức là bạn phải "đi dạo" trước rồi mới "ngắm người".

Cách dịch đúng là thế này:

散歩しながら、人を見ます。
Tôi (luôn) ngắm người trong lúc vừa đang đang đi dạo.

Ví dụ khác
テレビを見ながら、晩ご飯を食べました。
Tôi đã ăn tối trong lúc vừa đang xem ti vi.

Để nói "vừa (làm gì) vừa (làm gì)"

Hãy dùng と同時に(とどうじに) (đồng thời) chẳng hạn:
散歩すると同時に、人を見ます。
散歩するとともに、人を見ます。
散歩するといっしょに、人を見ます。
Takahashi

[Ngữ pháp JLPT N3] Mẫu ngữ pháp ーたものだ NGÀY XƯA THƯỜNG HAY

Hướng dẫn cách sử dụng mẫu ngữ pháp ーた(だ)ものだ hay ーた(だ)ものです

Cách dùng: Quá khứ + ものだ (plain) hay ものです (polite)
Ngữ nghĩa và sắc thái: Tại lớp Cú Mèo

Ví dụ

Dẫu biết là giữa ảo mộng và thực tế luôn có khoảng cách, như thế này thì ...

Hồi nhỏ tôi thường hay tới bể bơi.
子供の頃、よくプールに行ったものだ。
Ngày xưa ở đó thường hay không có nước.
昔、そこに水がなかったものだ。
Vì thế mà tôi thường trông như kẻ ngốc.
だから、僕はバカみたいに見えたものだ。
Thế thôi, nhiễu sự! おしまいだ。うざい!

Ngoài ra ví dụ thế này:
彼女は子供の頃、可愛かったものだ。
彼女は若いとき、美人だったものだ。
彼は昔イケメンだったものだ。

Nhân tiện, thằng bé trong hình trên không hề ngốc chút nào. Vì thế sẽ nói là:

Thời niên thiếu, tôi thường chẳng ngốc tẹo nào.
少年時代、ちっともバカじゃなかったものだ。
Takahashi

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

"Vô duyên" (無縁 MUEN) là gì?

"Vô duyên" trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt thì "vô duyên" có hai nghĩa chính:
(1) Người phụ nữ không có nét duyên dáng, hấp dẫn người khác giới gọi là "vô duyên"
Ví dụ "Mày vô duyên thế thì ma nó thèm lấy" ^^, tức là "ê sắc ế".
(2) Không có duyên phận với nhau, không thành vợ chồng
"Thế là kiếp này mình vô duyên, xin hẹn kiếp sau"

"Vô duyên" (無縁 MUEN) trong tiếng Nhật

Chữ DUYÊN 縁 đọc là EN hoặc là yukari.

Tuy nhiên, chữ 無縁 MUEN (vô duyên) lại có ý nghĩa hơi khác.

病院とは無縁です。 (びょういんとは むえんです)

Câu này nghĩa là "Với bệnh viện thì tôi vô duyên", có nghĩa là "Tôi chẳng bao giờ tới bệnh viện".

Trong tiếng Nhật thì "vô duyên" lại có nghĩa là chẳng bao giờ dính với thứ gì đó.

「お金がない!」とは無縁な人生を送る5つのルール
5 quy tắc để sống cuộc đời chẳng bao giờ phải nói "Tôi không có tiền!"

この金属は錆とは無縁です。
Kim loại này "vô duyên" với gỉ. = Kim loại này không bao giờ bị gỉ.

Hoặc ví dụ: Những kẻ báo thù không bao giờ bị bắt.
Bạn cũng có thể dùng "vô duyên":
逮捕とは無縁な復讐者たち (たいほとは むえんな ふくしゅうしゃたち)

Nhân tiện, đã nói tới chữ DUYÊN thì chúng ta cũng biết câu sau:
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng
有縁千里能相遇、無縁対面不相逢

Đôi khi nói là: Hữu duyên thiên lý lai tương hội, Vô duyên đối diện bất tương phùng
有縁千里来相会、無縁対面不相逢

Tức là có "duyên" thì ngàn dặm cũng có thể gặp nhau được, mà "vô duyên" thì có ngồi đối diện vẫn không "gặp" nhau, không quen nhau.

Đôi khi bị nhầm "bất tương phùng" sang "bất tương đồng" nhưng "bất tương đồng" chắc chắn chỉ là nhầm lẫn.

Nhân tiện, riêng chữ GẶP あう trong tiếng Nhật có tới 4 chữ kanji sau:
会う [AU, hội]
逢う [AU, phùng]
遇う [AU, ngộ]
遭う [AU, tao]

"Tao ngộ" 遭遇(そうぐう) cũng là một động từ 遭遇する SOUGUU SURU nghĩa là "tao ngộ" hay "gặp gỡ".

Vậy phân biệt 4 chữ này thế nào:
会う và 逢う là gặp người khác, trong đó 会う (hội) thường là gặp nhiều người còn 逢う (phùng) là gặp 1 đối 1.

遭う (tao) và 遇う (ngộ) thì không giới hạn ở gặp người (có thể gặp tai nạn, sự cố vv) và thường mang ý là "ngẫu nhiên" tức là "ngẫu nhiên gặp". Trong đó 遭う (tao) thường là gặp thứ không tốt ví dụ gặp tai nạn = 事故に遭う JIKO NI AU.

Ngoài ra, trong Việt ngữ còn có chữ "duyên tao ngộ" tức là "duyên gặp gỡ" nữa.

Đời không như là mơ

Trong bao nhiêu kẻ vô lại bạn lại gặp kẻ vô lại nhất. Trong bao nhiêu công việc, bạn lại chọn công việc tệ hại nhất. Trong bao nhiêu quyết định, bạn lại chọn quyết định xấu nhất. Thế thì "Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, Vô duyên đối diện bất tương phùng" ở đâu?

Đây cũng lại có khi là "duyên", vì trực giác của bạn dở quá. Bạn dùng quá nhiều lý trí, nhưng lý trí lại nửa mùa, không tới đâu, và không phát triển trực giác (vì mâu thuẫn với giáo điều được nhồi sọ từ nhỏ), thành ra toàn quyết định sai. Vì thế, bạn cần bài học cho tỉnh ngộ. Nỗi khổ cứ phải gặp người mình không thích gọi là 怨憎会苦 [おんぞうえく, oán tăng hội khổ]. Nỗi khổ này tới từ mối quan hệ với con người (人間関係 NINGEN KANKEI) và vấn đề chính là sự "ÉP DUYÊN" ^^

Cố mà học cho được bài học chứ biết làm sao. Đôi khi, chúng ta gặp phải "duyên xấu" trong cuộc đời. Trong trường hợp này cũng thường xuất phát từ sự "vô duyên" do người khác giới thiệu tới hay mang tới. Nên bạn cần hỏi cho rõ lai lịch, ai giới thiệu, không thì sẽ nhận cả đống rác từ sự "vô duyên" mà ra.

Để tránh gặp sự "vô duyên" hay người "vô duyên" trong cuộc đời thì hãy chú ý đặc biệt khi có người GIỚI THIỆU một người khác. Vì nhận thức của mỗi người khác nhau. Do đó, không nên căn cứ vào lời người khác để đánh giá người thứ ba (người được giới thiệu) mà phải dùng TRỰC GIÁC.

Chắc chắn bạn sẽ gặp rắc rối nếu tin người giới thiệu hay tin lời (nội dung) giới thiệu. Vì hai người kia có thể có duyên với nhau, chứ chưa chắc bạn và người thứ ba có duyên với nhau. Hơn nữa, nhận thức của mỗi người khác nhau, ngôn từ của mỗi người lại có ý nghĩa khác nhau, nên chỉ có TRỰC GIÁC mới giúp bạn tránh sự vô duyên mà thôi.
Takahashi

Tra từ điển

Cách dịch KUSENI (男のくせに)

KUSE là chữ 癖 (くせ, phích >>Bảng kanji) tức là "tật, tật xấu, thói quen xấu (bad habit)".
Ví dụ:
爪をかむ癖
怠け癖(ぐせ)がつく
早起きの癖をつける
話しながらあごをなでるくせがある

Ở đây thì くせに là một mẫu ngữ pháp (xem tại đây).

Ví dụ:

あいつは男のくせに、力がない。
彼女は女のくせに、料理ができない。
鈴木くんは大学生のくせに、英語が読めない。
意地悪なくせに、美人の恋人がいる。
勉強したくせに、テストがあまりできなかった。
好きなくせに、あえて告白できない。
能力が低いくせに、難しい仕事を引き受けた。

Như đã nói trong bài Ngữ pháp KUSENI thì KUSENI dùng theo hàm ý phê phán. Thường dùng để chê bai như thế này:

あんた、力がないね。男のくせに。

Ở đây bạn đảo ~KUSENI xuống thành câu thứ hai. Câu đầu là mô tả "hiện tượng" ^^

Lưu ý ngữ nghĩa: Khi dùng KUSENI thì đó là sự thật (fact), bạn không nói với phụ nữ 男のくせに mà chỉ nói với nam giới mà thôi.

Cách dịch くせに

あいつは男のくせに、力がない。
Hắn là đàn ông mà (lại) chẳng có sức.

あんた、力がないね。男のくせに
Cậu, chẳng có sức gì nhỉ. Đàn ông mà thế à.

Do đó, nếu nói 女のくせに。 thì có nghĩa là "Đàn bà mà thế à" (ví dụ chẳng biết nấu ăn gì).

Tất nhiên khi người ta nói theo kiểu 男のくせに hay 女のくせに thì thường là có sẵn định kiến trong đầu (gọi là 先入観 = せんにゅうかん, tiên nhập quan) rồi. Chứ thật ra thời này nam nữ bình quyền lâu rồi, mà cũng chẳng có đạo lý nào nói phụ nữ phải nấu ăn, hay làm nô lệ cho nam giới. Nếu có, chỉ là để thao túng người khác bằng đồ ăn mà thôi.

Kết luận là, để dịch đúng thì khả năng diễn đạt tiếng Việt phải tốt bên cạnh khả năng đọc hiểu tiếng Nhật. Để trở thành người dịch giỏi thì phải học đúng sắc thái, ngữ nghĩa và so sánh hai ngôn ngữ để tăng năng lực ngôn ngữ trong cả ngôn ngữ mẹ đẻ.
Mark

Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2017

Phân biệt tự động từ và tha động từ

Tự động từ

Tiếng Nhật: 自動詞 (じどうし, JIDOUSHI, tự động từ)
English: intransitive verb
Động từ mà không tác động lên đối tượng khác ví dụ như: khóc, về nhà, đứng lên, ngồi xuống vv.

Tha động từ

Tiếng Nhật: 他動詞 (たどうし, TADOUSHI, tha động từ)
English: transitive verb
Động từ mà phải có đối tượng tác động ví dụ như: ăn (cái gì), uống (cái gì), đọc (cái gì) vv.

So sánh tự động từ vs. tha động từ

Nói nôm na, động từ mà cần có đối tượng tác động thì là tha động từ (động từ tác động lên đối tượng khác), còn động từ không có tác động đối tượng thì gọi là tự động từ (động từ tự thân "vận động").

"Tự động từ" hay "tha động từ" là dịch từ chữ kanji tiếng Nhật mà ra.

Cách phân biệt nhanh tự động từ và tha động từ

Tự động từ thường đi sau trợ từ が, tha động từ thường đi sau trợ từ を ví dụ:
パソコン壊れる PASOKON GA KOWARERU máy tính (bị) hỏng (tự động từ)
富士山見える FUJISAN GA MIERU núi Phú Sỹ được nhìn thấy (tự động từ)
パン食べる PAN WO TABERU ăn bánh mỳ (tha động từ)
ビール飲む BIIRU WO NOMU uống bia (tha động từ)

Lưu ý: Không phải cứ đi với trợ từ を thì là tha động từ. Vì trợ từ を còn tạo trạng ngữ chỉ phương hướng nữa (Xem bài Trợ từ tiếng Nhật là gì).
Ví dụ: 公園を通る。
電車をおりる。
階段をおりる。
空を飛ぶ。
角を曲がる。
部屋を出る。
東大を卒業する。
自分の不幸を泣く。

Các động tự trên, mặc dù đi với trợ từ を WO, vẫn là tự động từ.

Ví dụ về tự động từ và tha động từ

Ví dụ động từ 折る ORU và 折れる ORERU.
折る ORU = bẻ gãy (cái gì đó)
折れる ORERU = (cái gì đó) bị gãy

Ví dụ: 枝を折る = bẻ gãy cành câ
枝が折れる = cành cây bị gãy

Phân biệt với 枝が折られる eda ga orareru (bị động) là "cành cây bị bẻ gãy".
折られる OARERU là động từ dạng bị động. Xem bảng Chia động từ.

Cũng phân biệt với 枝を折れさせる eda wo oresaseru (sai khiến) là "làm cho cành cây bị gẫy".
折れさせる ORESASERU là động từ dạng sai khiến. Xem bảng Chia động từ.

Tự động từ và tha động từ thường đi thành cặp

Nhiều động từ thường có tự động từ và tha động từ đi thành cặp với nhau.

Ví dụ:
終わる OWARU (cái gì kết thúc)・終える OERU (kết thúc cái gì)
上がる AGARU (cái gì đi lên)・上げる AGERU (nâng cái gì lên)
始まる HAJIMARU (cái gì bắt đầu)・始める HAJIMERU (bắt đầu cái gì)
汚れる YOGORERU (cái gì bị dơ)・汚す YOGOSU (làm dơ cái gì)
治る NAORU (bệnh khỏi)・治す NAOSU (chữa bệnh cho khỏi)
直る NAORU (cái gì được sửa)・直す NAOSU (sửa cái gì)
変わる KAWARU (cái gì biến đổi)・変える KAERU (biến đổi cái gì)
出る DERU (cái gì đi ra, xuất hiện, tham dự)・出す DASU (đưa cái gì ra)
見つかる MITSUKARU (cái gì được tìm thấy)・見つける MITSUKERU (tìm thấy cái gì)
見える MIERU (nhìn thấy)・見る MIRU (nhìn)
聞こえる KIKOERU (nghe thấy)・聞く KIKU (nghe)

Vỡ, đứt, gãy, hỏng vv
割れる WARERU bị vỡ・割る WARU làm vỡ
折れる ORERU bị gẫy・折る ORU bẻ gẫy
破れる YABURERU bị rách・破る YABURU xé rách
切れる KIRERU bị đứt・切る KIRU cắt đứt
砕ける KUDAKERU bị vỡ nát・砕く KUDAKU đập nát
壊れる KOWARERU bị phá, bị hỏng・壊す KOWASU phá hỏng
倒れる TAORERU bị đổ・倒す TAOSU làm đổ, đánh đổ
崩れる KUZURERU sụp đổ・崩す KUZUSU làm sụp đổ
滅びる HOROBIRU diệt vong・滅ぼす HOROBOSU làm diệt vong

Dạng MARU và MERU

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

Ca từ Summer Wine

"Summer Wine" là bài hát về một chàng trai bị một cô gái chài lừa hết cả tiền, và có lẽ cả tình nữa.
Trong bài hát thì "summer wine" (rượu vang mùa hè) là một ẩn dụ (metaphor), ám chỉ sự đam mê cuồng nhiệt, có lẽ là thông qua chất kích thích.

Spur (đinh thúc ngựa)

Sở dĩ chàng trai thành đối tượng vì chàng có "silver spurs", tức là spur bằng bạc. Spur là dụng cụ mà cao bồi gắn vào giầy để cưỡi ngựa hay cưỡi bò. "Spur" là "đinh thúc ngựa". Spur bằng bạc thì có lẽ là rất giá trị, kiểu như ngày nay bạn có đồng hồ Rolex vậy.

Tóm lại thì summer wine của cô gái được làm từ những thứ ngọt ngào như là "Strawberries cherries and an angel's kiss in spring" (trái dâu tây trái anh đào và một nụ hôn của thiên thần vào mùa xuân). Về cơ bản khi bạn dùng chất kích thích và phê thuốc thì sẽ cảm nhận được thôi.

Cô gái dụ dỗ chàng trai tháo silver spurs ra và "pass some time" tức là vui vẻ cùng nhau, mục đích là cuỗm hết đồ của chàng trai.

Một số quán ngữ tiếng Anh:
couldn't find my feet = (không tìm thấy chân) không nhấc chân lên được
an unfamiliar line = lời nói không quen thuộc, lời kỳ lạ
my head felt twice its size = nhức đầu như búa bổ (cảm thấy như kích thước tăng gấp đôi)
cravin' for more summer wine = tình trạng đói thuốc cần thêm để giải cơn thèm thuốc

Nghe nhạc trên Youtube

Bài hát này làm tôi nhớ tới phim "The night of" nói về một anh chàng sinh ra trong gia đình nhập cư Pakistan ở Mỹ, lái taxi của bố đi dự tiệc nhưng bị lạc đường, gặp một cô gái dễ thương và được cô dẫn về nhà, cho uống chất kích thích.... Khi tỉnh dậy thì cô gái đã chết với hàng chục vết đâm trong tình trạng lõa thể. Đoạn sau là một loạt quá trình tố tụng chàng trai về tội giết người, cũng như về cuộc sống trong tù (giai đoạn tạm giam điểu tra).

Vì sao một chàng trai "tốt" lại có thể dính vào những rắc rối khủng khiếp chỉ do cám dỗ nhất thời gây ra? Làm sao để không dính vào mớ bòng bong của sự cám dỗ, hay không bị bẫy vào một mỹ nhân kế nào đó?

Đơn giản thôi: Đừng bao giờ làm "nice guy". Nếu bạn có thể lực, nên làm "playboy" ngay từ đầu. Bên cạnh đó, bạn phải có khả năng đọc được động cơ và tiềm thức của người khác. Trước mọi cám dỗ hãy nhớ câu này: Cái gì quá tốt để có thể là sự thật đều không thật.

Có biết bao nhiêu cạm bẫy trong cuộc đời, nếu bạn có thứ gì đó có thể bị tước đoạt? Tốt nhất hãy là vô sản, sẽ chẳng có cám dỗ nào cả. Thế thì đời lại chán ngắt như là của "nice guy". Và rồi lại rất dễ sập bẫy. Vì thế, căn bản là hãy vui chơi hợp lý, và thứ gì trả được bằng tiền mặt thì đều tốt hơn thứ miễn phí rất nhiều.

Ngoài ra điều quan trọng là ngoại trừ tình yêu đích thực, còn ai cũng sẽ cố gắng tước đoạt của bạn càng nhiều càng tốt. Do đó, bạn càng không nổi bật thì càng không rắc rối. Ai bảo làm người bình thường chỉ có thua thiệt nào?

Ca từ đầy đủ
"Summer Wine"
(originally by Lee Hazlewood)
F
Strawberries cherries and an angel's kiss in spring
My summer wine is really made from all these things
M
I walked in town on silver spurs that jingled to
A song that I had only sang to just a few
She saw my silver spurs and said lets pass some time
And I will give to you summer wine
Ohh-oh-oh summer wine
F
Strawberries cherries and an angel's kiss in spring
My summer wine is really made from all these things
Take off your silver spurs and help me pass the time
And I will give to you summer wine
Ohhh-oh summer wine
M
My eyes grew heavy and my lips they could not speak
I tried to get up but I couldn't find my feet
She reassured me with an unfamiliar line
And then she gave to me more summer wine
Mmm-mm summer wine
F
Strawberries cherries and an angel's kiss in spring
My summer wine is really made from all these things
Take off your silver spurs and help me pass the time
And I will give to you summer wine
Mmm-mm summer wine
M
When I woke up the sun was shining in my eyes
My silver spurs were gone my head felt twice its size
She took my silver spurs a dollar and a dime
And left me cravin' for more summer wine
Ohh-oh-oh summer wine
F
Strawberries cherries and an angel's kiss in spring
My summer wine is really made from all these things
Take off your silver spurs and help me pass the time
And I will give to you summer wine
Mmm-mm summer wine

Chủ Nhật, 30 tháng 4, 2017

Bảng hán tự tra và học 985 chữ kanji JLPT N1

Đây là bảng 985 chữ hán tự trình độ JLPT N1.
Hơ con trỏ lên hoặc nhấp con trỏ/chạm vào chữ kanji để xem nghĩa và cách đọc. Nhấp con trỏ/chạm vào bộ thủ để nhảy tới chữ kanji có bộ thủ đó. Lưu ý: Bộ thủ nào không có chữ kanji sẽ không nhảy tới và không phải bộ thủ nào cũng có chữ kanji trong bảng này.
Bảng này được list tại trang KANJI.

Bảng hán tự 985 chữ kanji JLPT N1

Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2017

Vì sao giới trẻ VN thích "lầy lội"?

Dạo gần đây giới trẻ rất thích dùng từ "lầy lội" theo kiểu "Sao mày lầy lội vậy", "Không ngờ nó lầy thế". Tóm lại là vì sao và nó thể hiện điều gì?

Ngôn từ là thể hiện văn hóa, tư duy một cách rõ ràng nhất. Theo cách này, quả thực là văn hóa, tư duy ở VN đang xuống cấp. Tất nhiên là khỏi cần nói thì các bạn cũng biết người VN xấu tính tới mức nào. Nếu bạn từng ra nước ngoài, chỉ cần Đông Nam Á thôi, thì nên kết luận là người VN là xấu tính nhất, và cũng là khổ ải nhất.

Nhưng tất nhiên là họ không nhìn được thế. Tôi thấy rất nhiều người thích xả rác ra đường vì cha mẹ họ dạy thế. Nếu mà mang rác về nhà là bị mẹ la ngay, mà mẹ là "bà trời, bà chằn" trong nhà.

Vốn "lầy lội" là chỉ con đường lầy lội tức nhiều bùn, khó bước đi hoặc là ruộng lầy lội do có nhiều bùn, nhiều nước.

Cái cách mà giới trẻ dùng "lầy lội" hiện nay có nghĩa là "bê tha, bệ rạc". Quả thực là người VN bê tha, bệ rạc thật. Từ lối sống tới cách ăn uống đều bê tha bệ rạc không hề có phép tắc gì (ăn không ngậm miệng, vừa nhai vừa nói chuyện, hoàn toàn không có quy tắc ứng xử bàn ăn).

Vì sao phải dùng từ "lầy lội" mà không dùng từ "bê tha, bệ rạc"?

Vì nhiều người VN không hiểu nghĩa của "bê tha, bệ rạc" nữa. Chính họ là kẻ bê tha, bệ rạc!

Điều này giống như nhiều người không hiểu, và do đó không nói về "danh dự" hay "tự trọng" nữa. Thứ duy nhất họ có là "tự ái" và "phức cảm tự ti".

Vì không hiểu nghĩa - và không sử dụng được - từ "bê tha, bệ rạc" nên họ chế thêm từ "lầy lội" với nghĩa y chang!

Tôi nghĩ đây là vấn đề về cách tư duy. Cách tư duy này là do giáo dục kiểu tư lợi trong gia đình - đặc trưng của xã hội nho giáo, cũng như của cả nền giáo dục từ lâu rồi không dạy cách tư duy đúng mà chỉ dạy cách tư duy hèn mọn, nhỏ mọn.

Điều này thể hiện qua ngôn từ nhảm nhí. Trong bối cảnh xã hội như thế, hài nhảm, phim nhảm lên ngôi và những câu thoại ngô nghê, ngớ ngẩn dễ trở thành trào lưu. Thật sự, chúng đang thành trào lưu.

Về ngôn từ, càng ngây ngô, càng ngớ ngẩn như kiểu "lạc trôi" thì càng được giới trẻ ái mộ.

Về tư duy, càng tư lợi, càng sùng bái cha mẹ như kiểu "chỉ có gia đình mới sẵn sàng chết cho nhau, mới không đâm nhau sau lưng" thì càng được cổ xúy.

Đó chắc chắn là sự suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, tâm hồn, ngôn ngữ.

Điều quan trọng là BẠN phải dùng ngôn từ cao thượng. Người cao thượng dùng ngôn từ cao thượng. Bọn nhảm nhí dùng ngôn từ nhảm nhí. Và đây là HAI THẾ GIỚI khác nhau. Tôi nghĩ là ở đất nước nào cũng sẽ phân chia ra như vậy thôi. Ở Nhật cũng như vậy, có hai ngôn ngữ tiếng Nhật khác nhau.

Những du học sinh kém may mắn sẽ chỉ học được ngôn ngữ hạ lưu. Ngược lại, nếu du học với thái độ đúng đắn thì sẽ học được tiếng Nhật thượng lưu. Muốn học tiếng Nhật thật sự thì vẫn phải đọc sách nhiều mới được. Nếu sang Nhật chỉ đại khái đi làm thêm thì phần lớn chỉ là tiếng Nhật hạ lưu mà thôi.

Giáo dục ngôn ngữ trong gia đình

VN ngày nay không còn quý tộc mà chỉ còn trọc phú. Nên trong gia đình không còn giáo dục ngôn từ mấy nữa. Có lẽ liếc sơ tủ sách thì toàn sách phật giáo, dạy con phải hiếu thảo với cha mẹ, lợi ích của việc kính trọng người già, chứ không còn thấy từ điển hay sách học gì nữa.

Việc giáo dục ngôn ngữ phải bắt nguồn từ trong gia đình. Ngôn từ của một người sẽ thể hiện mức độ đạo đức của người đó. Chắc chắn giáo dục về ngôn từ là giáo dục quan trọng bậc nhất trong cuộc đời mỗi con người. Do đó, bản thân cha mẹ phải là người dùng ngôn từ cao thượng trước.

Điều cần ghi nhớ là: Những kẻ dùng ngôn từ nhỏ mọn hay hèn mọn sẽ sống cuộc đời đúng như thế.

Và sẽ sớm đau khổ mà phải học cách "buông bỏ" thôi. Nhưng chẳng phải là buông bỏ thói bon chen, xả rác, vượt đèn đỏ cũng như ngôn từ hèn mọn không tốt hơn hay sao? Hỉ nộ ái ố (cách nói khác của "sướng khổ luân hồi") thường sinh ra từ sự BÊ THA, BỆ RẠC mà thôi.
Takahashi

"Vãi" trong "ngon vãi", "ngu vãi" nghĩa là gì?

"Vãi" là một từ tiếng lóng có thể dùng riêng hay đi với tính từ kiểu như:

Ngon vãi! Ngu vãi!

Ví dụ con nhỏ đó ngon vãi, thằng đó ngu vãi, vv. Hoặc là "nguy vãi", "khốn vãi". Ở đây chỉ mức độ cao hơn nữa còn là cảm xúc nữa.

"Vãi" nghĩa đen là rải ra, hoặc làm cho văng tung tóe, ví dụ "vãi thóc cho gà ăn". Cái gì tung tóe khắp nơi thì gọi là "vương vãi".

Bọn trẻ ngày nay thì hay dùng từ "vãi lúa" tức là "rất, cực kỳ, とても、きわめて". Sự thật thì chẳng có hạt lúa nào mà chỉ là rất nhiều, mức độ rất cao.

Tóm lại thì "vãi" có vẻ là "vãi cả nước dãi" do thèm khát, quá hấp dẫn, ví dụ "ngon vãi" hay quá kinh ngạc mà không thốt nên lời (あきれる akireru, shock) như "ngu vãi".

Một câu quán ngữ liên quan tới "vãi" là "sợ vãi ra quần". Vãi ở đây là "vãi tè, vãi đái", thậm chí là vãi tất. Câu này bắt nguồn từ sự thật là có nhiều người sợ quá mà vãi ra thật. Ví dụ, các tử tù thường khuyên nhau đi vệ sinh trước khi bị xử tử, tránh bị "vãi".

Một số cách dùng:
hài vãi = rất hài, hài khủng khiếp
ngu vãi = rất ngu, ngu khủng khiếp
to vãi = cực kỳ to, tương tự "to vật" (tức là "to vật vã")
khiếp vãi = cực kỳ đáng sợ
vãi chưởng/vãi cả chưởng = rất, cực kỳ, khủng khiếp
vãi lúa = rất, cực kỳ, khủng khiếp
vãi tè/vãi đái = khủng khiếp, cực kỳ
ngon vãi cả dãi = (ngon) cực kỳ, siêu ngon
thèm vãi cả dãi = rất thèm, cực kỳ thèm, si mê khủng khiếp

Bạn cũng có thể thay chữ "vãi" bằng chữ "vật" ví dụ "ngu vật, ngon vật". "Vật" ở đây là "vật vã" tức là khổ tâm day dứt, ám chỉ mức độ "khủng khiếp".
ngon vật = ngon khủng khiếp, ngon khiếp
ngu vật = ngu khủng khiếp, ngu khiếp

Tránh dùng từ "vãi"

Đây là từ của giới trẻ - những người có IQ thấp nhất xã hội - hay dùng để thể hiện bản thân. Lý do là thay vì ngôn từ giới trẻ (ngôn ngữ teen) thì họ chẳng có gì để thể hiện. Thường thì khi còn trẻ thì IQ thấp và chẳng có năng lực gì, nên thích dùng từ ngữ kiểu độc, lạ, hay kỳ quái theo kiểu "ngu mà còn tỏ ra nguy hiểm" hay "vi diệu". Đây cũng là lý do mà có nhiều thanh thiếu niên rất thích chửi thề, thậm chí nói một câu thì chửi thề một câu. Thanh thiếu niên IQ càng thấp thì càng hay chửi thề và coi đó là ngôn ngữ bình thường. Đây không phải ngôn ngữ bình thường mà thường thể hiện trí tuệ/giáo dục thấp. Có thể gọi đây là "tiếng choai choai".

Dù có dùng từ "vãi" hay ngôn ngữ choai choai kiểu này thì cũng chẳng khá. Nên theo tôi tốt nhất là tránh dùng ngay từ đầu. Thay vào đó, hãy học tiếng Nhật và nói chuyện đàng hoàng. Suy cho cùng bọn choai choai toàn bọn ngu vãi.

"Vãi" trong tiếng Nhật

Trong tiếng Nhật từ tương ứng là やばい。

やばい=VÃI

やばいとは、危ない、不都合な状況のこと。
やばいとは、のめり込みそうなくらい魅力的なこと。
【年代】 江戸時代~   【種類】 -
『やばい』の解説
やばいとは「危ない」「悪事がみつかりそう」「身の危険が迫っている」など不都合な状況を意味する形容詞や感嘆詞として、江戸時代から盗人や的屋の間で使われた言葉である。その後、やばいは戦後のヤミ市などで一般にも広がり、同様の意味で使われる。1980年代に入ると若者の間で「怪しい」「格好悪い」といった意味でも使われるようになるが、この段階ではまだ否定的な意味でしか使用されていない。これが1990年代に入ると「凄い」「のめり込みそうなくらい魅力的」といった肯定的な意味でも使われるようになる。
やばいはカタカナのヤバイやヤヴァイといった表記が使われることも多い。

YABAI có nghĩa là "nguy, khốn (vãi)" ví dụ: やばいぞ、逃げろ! Nguy rồi, chạy đi!

Hoặc là "vãi":
やばいおいしい = Ngon vãi

やばい cũng là ngôn ngữ choai choai ở Nhật (gọi là 若者言葉 wakamono kotoba). Bạn cần tránh ngôn từ kiểu này nếu du học ở Nhật, bên cạnh việc tránh バイト語 nữa.

Nhiều người Việt ở Nhật phát âm sai từ này thành "già bai" vì bệnh của người Việt là dạy và học phát âm sai từ đầu. Từ này không hề đọc là "già bai" mà là "i-a bai". Đọc rõ ra là "i-a" nhé. Tóm lại viết sao đọc vậy YABAI thôi.

みんなさん、若者言葉はやばいぞ!
 Takahashi

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

"Sành điệu" và "hào hoa phong nhã" trong tiếng Nhật

"Sành điệu" là gì?

"Điệu" có lẽ là dáng điệu, dáng vẻ còn "sành" có lẽ là sành sỏi. Sành điệu thường chỉ việc có dáng vẻ sành sỏi, tức là rành rẽ về thời trang, ăn chơi hay lĩnh vực sang trọng nào đó. Khi nói tới một người sành điệu thì thường liên tưởng tới một người sành sỏi hơn là họ thực sự giỏi làm ra những thứ đó.

Tiếng Anh có thể dịch là COOL. Trong tiếng Nhật sẽ gọi là かっこいい KAKKOII.

Đây là dạng tắt của 格好がいい KAKKOU GA II trong đó 格好 [cách hảo] là dáng điệu, dáng vẻ. Dáng điệu hay tức là "sành điệu".

Minh họa về "sành điệu":

"Hào hoa phong nhã" là gì?

Đây là từ dành cho các quý ông, quý anh, chỉ người vừa đẹp trai mà ăn mặc, dáng vẻ, phong thái tốt và cư xử lịch thiệp. Tóm lại thì không chỉ đẹp trai là được mà còn phải có tác phong, phong thái tốt.

Nếu chỉ đẹp trai thì gọi là ハンサム [handsome] mà thôi.

Tóm lại thì イケメン=ハンサム+カッコいい

KAKKOII (sành điệu) thì không nhất thiết phải đẹp trai, nhưng IKEMEN (hào hoa phong nhã) thì nhất thiết phải có yếu tố đẹp trai. Hãy nhìn phương trình trên.

Trong cuộc sống mà nói, đẹp trai ít khi bẻ ra mà ăn được. Nhưng nếu hào hoa phong nhã (IKEMEN) thì đơn giản là bạn cần tập gym, vì sẽ thu hoạch không kịp đâu! Cần phải có sức vóc, thể lực mới thu hoạch hết mùa màng được.

Vì thế, mục tiêu hàng đầu vẫn là trở thành IKEMEN. Tuy nhiên, nếu từ đầu mà không đẹp trai thì chịu rồi, có lẽ chỉ thành KAKKOII, tức là COOL GUY được mà thôi. Tóm lại là nếu bị gien xấu trai thì không nên quá hi vọng sẽ thành IKEMEN và thu hoạch nhiều trong cuộc đời, thành được KAKKOII đã là may. Nên sinh ra trong gia đình nào là tương đối quan trọng (mà tệ nhất là sinh ra trong gia đình nho giáo toàn lấy người quen biết hay tương đồng nên gien khó mà khá được.)

Minh họa về "hào hoa phong nhã":

Bạn cũng có thể muốn check album ảnh HỘI THOẠI (KAIWA) - EXPRESSION - TỪ LÓNG tại fb.com/saromaclass (có chứa hai ảnh trên).
Takahashi

Thứ Bảy, 22 tháng 4, 2017

[Từ vựng ngữ pháp JLPT N2] Hướng dẫn cách sử dụng いずれ IZURE

Hướng dẫn cách dùng từ vựng ngữ pháp JLPT N2 いずれ IZURE (đại từ/phó từ)

いずれ có thể sử dụng như đại từ hoặc là trạng từ (phó từ). Xem nghĩa bên dưới.

Tóm lại thì đại từ いずれ = どれ。どちら。どっち。

Thường sử dụng dạng いずれ・・・も=どれでも
いずれにしても=どちらにしても

Cách dịch chuẩn và sắc thái chỉ có tại lớp Cú Mèo.

Câu ví dụ

仕事と遊びはいずれも健康に必要である。
⇒仕事と遊びはどちらも健康に必要である。

スペイン語、フランス語、ドイツ語のいずれかを選択できる。
⇒スペイン語、フランス語、ドイツ語のどれかを選択できる。

いずれ=将来には。遅かれ早かれ。いつかは。早晩必ず。

「結婚が人生の墓場(はかば)だなんて信じられないな」
「いずれわかるよ」

Tra từ điển

いず‐れ〔いづ‐〕【▽何れ/×孰れ】 の意味
出典:デジタル大辞泉
[代]不定称の指示代名詞。どれ。どちら。どっち。「―の物も名品ぞろいだ」「合否―の場合も通知します」
[副]
1 いろいろな過程を経たうえでの結果をいう。いずれにしても。結局。「その場はごまかせても―ばれるに決まっている」
2 あまり遠くない将来をいう。そのうちに。近々。「―改めて伺います」
Source: https://dictionary.goo.ne.jp/jn/11686/meaning/m0u/

いずれ có thể coi là một từ quan trọng cần học trong trình độ JLPT N2 nên các bạn hãy học chắc từ này nhé.
Takahashi

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

"Tiếu lâm" nghĩa là gì? Nguồn gốc của từ "tiếu lâm"

Chuyện tiếu lâm, truyện cười, chuyện khôi hài, chuyện hài hước, truyện trào phúng, trào lộng, hoạt kê vv

Định nghĩa: Tiếu lâm = chuyện kể dân gian dùng hình thức gây cười để mua vui hoặc để phê phán, đả kích, thường có yếu tố tục

Ví dụ: Đừng có kể chuyện tiếu lâm với tôi.
Cả họ làm quan đều nhờ năng lực thì đúng là chuyện thật mà cứ như chuyện tiếu lâm.

Vậy thì về ngữ nghĩa và nguồn gốc thì "tiếu lâm" là gì?

Đó là chữ hán 笑林 [tiếu lâm].

笑林
しょうりん
Xiao-lin
中国の笑話集。三国時代の魏の邯鄲淳 (かんたんじゅん) の撰とされる。3巻。中国で最古の笑話集であるが,宋代にすでに原本は失われていたと考えられ,現在では魯迅の『古小説鉤沈』に集められたものが最もまとまっているが,それも『太平御覧』『太平広記』『芸文類聚』などの類書から約 30話を引いているにすぎない。純粋の笑話のほかに有名人の逸話が混っており,劉義慶の『世説新語』の先駆をなしている。


日本大百科全書(ニッポニカ)の解説
笑林
しょうりん
中国における最初の笑話集。『隋書(ずいしょ)』「経籍志(けいせきし)」には3巻、後漢(ごかん)の邯鄲淳(かんたんじゅん)撰(せん)とあり、『唐書(とうじょ)』「芸文志(げいもんし)」には「何自然(かじねん)笑林三巻」、『宋書(そうじょ)』「芸文志」には「路氏(ろし)笑林三巻」とある。原本は伝わらず、『太平広記(たいへいこうき)』『太平御覧(ぎょらん)』『芸文類聚(げいもんるいじゅう)』その他に散見するだけであるが、きわめて短い形式のなかに風刺と笑いと機知を含んだ滑稽(こっけい)な話のほかに、歴史上の人物の逸話も混じっていたようである。『隋書』「経籍志」で撰者に擬せられている邯鄲淳(132―?)は、後漢末の優れた儒者で、三国時代には魏(ぎ)の曹操(そうそう)(武帝)に優遇され、その子曹丕(そうひ)(文帝)が帝位につくにおよんで博士・給事中(きゅうじちゅう)に取り立てられたが、そのとき彼は90余歳だったという。[駒田信二]
『松枝茂夫・武藤禎夫編・訳『中国笑話選』(1964・平凡社・東洋文庫)』

"Tiếu lâm" là tập truyện cười đầu tiên ở Trung Quốc được coi là tác phẩm ghi lại của 邯鄲淳 Hàm Đan Thuần của nước Ngụy 魏 thời đại tam quốc.

笑林 [tiếu lâm] có thể coi là "rừng cười" trong đó "tiếu" là "cười" và "lâm" là "rừng". Tuy nhiên, ở đây có lẽ không phải là cánh rừng mà là "tập truyện", tức chữ LÂM 林 dùng thay cho chữ TẬP 集.

Do đó, "tiếu lâm" có thể dịch là "tập truyện cười".

Tóm lại, chuyện tiếu lâm tức là chuyện cười đã có tuổi thọ lâu dài, được ghi ở trong sách. Nói nôm na, đó là kiểu "chuyện cười dân gian". Nếu nói một cách trang trọng thì "tiếu lâm" đại khái là "tuyển tập chuyện cười dân gian".

Quán ngữ (cách nói thông dụng) điển hình là "kể chuyện tiếu lâm", tức là "kể chuyện cười (kể chuyển nhằm gây cười hay với mục đích gây cười)".

Từ gần nghĩa "hoạt kê"

"Hoạt kê" là từ gốc hán, chữ hán là 滑稽, trong tiếng Nhật cũng có chữ này bạn có thể gõ bằng こっけい. Hoạt kê có nghĩa là nói trắng thành đen, nói đen thành trắng thường để chọc cười. Tóm lại thì cũng là để gây cười thôi nhưng dùng điệu bộ, cử chỉ, lời lẽ khôi hài để chọc cười.

Ví dụ: Tiểu thuyết hoạt kê

Nghĩa của từ "hoạt kê" trong tiếng Nhật: Việc thú vị trở thành đối tượng của việc gây cười, sự khôi hài.
こっ‐けい【滑稽】 の意味
出典:デジタル大辞泉
[名・形動]
1 笑いの対象となる、おもしろいこと。おどけたこと。また、そのさま。「―なしぐさ」
2 あまりにもばかばかしいこと。また、そのさま。「今さら強がっても―なだけだ」
[派生]こっけいさ[名]
[補説]「滑」は「乱」、「稽」は「同」の意で、弁舌巧みに是非を言いくるめること。また、「稽」は酒器の名で、酒がとめどなく流れ出るように、弁舌のよどみない意ともいう。
Takahashi

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

[Ngữ pháp JLPT N2] Hướng dẫn cách sử dụng và phân biệt すぐに SUGUNI vs. 直に JIKANI vs. 直ちに TADACHINI

Hướng dẫn sử dụng trạng từ すぐに(直ぐに) or すぐ(直ぐ)

Nghĩa: (làm gì) ngay lập tức
すぐに【直に】
( 副 )
時間を置かないさま。ただちに。 「 -帰る」
まっすぐに。すなおに。 「性質も-、行おこないも正ただしかりければ/金色夜叉 紅葉」

Hướng dẫn cách dùng trạng từ 直に JIKANI

じか‐に〔ヂカ‐〕【▽直に】 の意味
出典:デジタル大辞泉
[副]間にほかのものを入れないで直接にするさま。「ワイシャツを肌に―着る」

Trạng từ 直に JIKINI
じき‐に〔ヂキ‐〕【直に】
[副]もう少ししたら。もうすぐ。「直に追いつくよ」

大辞林 第三版の解説
じかに【直に】
( 副 )
間に人を介したり、物をさしはさんだりしないさま。直接に。 「地面に-置く」 「校長から-聞いたといふ訳でもないんです/田舎教師 花袋」

じきに【直に】
( 副 )
時間をあまり置かないさま。すぐに。間もなく。じき。 「 -飽きるだろう」 「 -参ります」

Hướng dẫn cách dùng trạng từ 直ちに TADACHINI

ただち‐に【直ちに】 の意味
出典:デジタル大辞泉
[副]
1 間に何も置かないで接しているさま。直接。じかに。「窓は―通りに面している」「その方法が―成功につながるとは限らない」
2 時間を置かずに行動を起こすさま。すぐ。「通報を受ければ―出動する」

直ちに
プログレッシブ和英中辞典(第3版)の解説
ただちに【直ちに】
1 ⇒すぐ(直ぐ)1
ただちにファックスを送った
We faxed them immediately.
病人はただちに手術を必要とする
The patient must be operated on without delay.
彼はただちに決意した
He made up his mind on the spot.
2 〔そのまま〕
努力がただちに成功につながるとは限らない
Effort does not lead directly to success.

[Ngữ pháp JLPT N2] Hướng dẫn cách sử dụng trạng từ やがて YAGATE

Cách dùng trạng từ やがて YAGATE

Đối tượng: Ngữ pháp JLPT N2
Cách dùng: Trạng từ
Dịch: chẳng mấy chốc mà, thoáng chỗ đã

やがて【×軈て/▽頓て】 の意味
出典:デジタル大辞泉
[副]
1 あまり時間や日数がたたないうちに、ある事が起こるさま、また、ある事態になるさま。そのうちに。まもなく。じきに。「―日が暮れる」「東京へ出てから、―三年になる」
2 それにほかならない。まさに。とりもなおさず。
「自尊の念は―人間を支持しているもので」〈露伴・プラクリチ〉
3 そのまま。引き続いて。
「山の仕事をして、―食べる弁当が」〈左千夫・野菊の墓〉
「(道真ガ大宰府ニ流サレテ)―かしこにてうせ給へる」〈大鏡・時平〉
4 時を移さず。ただちに。すぐさま。
「―具して宮に帰りて后に立てむ」〈今昔・三一・三三〉
[補説]「軈」は国字。
Trang từ điển: http://dictionary.goo.ne.jp/jn/221153/meaning/m0u/

"Biết chết liền" là gì và dịch ra tiếng Nhật thế nào?

"Biết chết liền"

Đây là phương ngữ miền nam. Câu này có nghĩa là "hoàn toàn không biết gì" = 全然知らない zenzen shiranai.

Nghĩa đen của "biết chết liền" tức là nếu biết thì chết ngay lập tức (liền = ngay, ngay tức thì), nhưng vì không chết ngay nên nghĩa là tôi không biết gì. Còn lâu tôi mới chết, nên còn lâu tôi mới biết.

Vì còn lâu tôi mới biết, tức là tôi không có manh mối gì để biết, hay hoàn toàn không biết gì (nghĩa bóng).

Không phải ai cũng nên nói "biết chết liền". Những người sắp chết rõ ràng không nên nói câu này, về mặt ngữ nghĩa. Vì họ sắp chết nghĩa là họ "sắp biết", tức là cũng biết tương đối rồi. Thường người nói câu này là các bạn trẻ, vì còn lâu họ mới chết, nên còn lâu họ mới biết.

Ví dụ:
"Ê bồ, biết đâu bán iPhone 10 đỏ không, vừa bán miếng đất tính lấy vài cái tặng ghệ."
"Tao mà biết thì chết liền á!"

Dịch của "biết chết liền" sẽ có ở cuối bài. Bạn nào muốn thì hãy luyện tập dịch tại đây.

Dịch "Hổng hiểu gì hết trơn"

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

GOKIGEN'YOU VS. Chào thân ái và quyết thắng!

御機嫌よう (ごきげんよう GOKIGEN'YOU) là một câu chào tiếng Nhật, hơi cổ và hơi kiểu cách một chút, nhưng chắc chắn là không phải là suồng sã. Nó cũng tương đương với kiểu "chào thân ái và quyết thắng" vậy. Về sắc thái mà nói thì hai cách nói này tương đương nhau.

ごきげんよう GOKIGENYOU thật sự nghĩa là gì?


Tóm lại thì GOKIGEN'YOU là gì và để làm gì?

Trong tiếng Nhật thì chúng ta biết một số cách chào:
お早うございます OHAYOU GOZAIMASU = Good morning
今日は KONNICHI WA = Good day (chào trong cả ngày)
今晩は KOMBAN WA = Good evening
またね MATANE = See you
また会いましょうね MATA AIMASHOU NE = See you again
さようなら = Good bye / Farewell

ごきげんよう được dùng để chào khi gặp hay chào tạm biệt kiêm luôn cả hỏi thăm sức khỏe. Ví dụ khi gặp nhau có thể hỏi:

お元気ですか。 OGENKI DESUKA? Bạn khỏe không?

元気 GENKI và 機嫌 KIGEN là khác nhau. 元気 là khỏe, khỏe mạnh, còn 機嫌 [cơ hiềm] là sự xấu tốt của tâm trạng, sự hài lòng hay không. Chúc KIGEN là chúc bạn luôn vừa lòng.

よう ở sau KIGEN có lẽ là 良い・よく (YOI/YOKU) là tốt, chúc cho tốt.

Do đó:
ごきげんよう = Bạn khỏe chứ? [dùng khi gặp mặt]
ごきげんよう = Chúc bạn mạnh khỏe (mạnh giỏi) [dùng khi tạm biệt]

Giống như "CIAO" trong tiếng Ý vậy (đơn giản là "chào"):
Ciao, how are you?
Ciao, have a good time!

"Chào thân ái và quyết thắng" là gì?

Đây là phong cách của những người cộng sản thời chiến tranh. Những người cộng sản coi nhau là "đồng chí" (comrade, 同誌), cùng chung lý tưởng cộng sản, giải phóng thế giới khỏi chủ nghĩa tư bản. Họ luôn chào thân ái, vì đúng là họ thân ái với nhau thật. Còn quyết thắng thì là vì họ có nhiều kẻ thù cần tiêu diệt, mà sào huyệt cuối cùng họ muốn hướng tới - dưới lá cờ cộng sản của Liên Xô - chính là Wall Street hay còn gọi là "Phố Uôn". Bởi vì họ thường 100% là chiến tranh với kẻ thù nên mục tiêu số một của họ là chiến thắng, do đó họ luôn quyết thắng. Câu "chào thân ái và quyết thắng" tức là chào nhau một cách thân ái nhất (để nêu cao tình đống chí, lý tưởng về ý thức hệ, nhấn mạnh sự đồng lòng quyết tâm đánh đổ chủ nghĩa tư bản thối nát vv), đồng thời chúc nhau thắng lợi. Đây vừa là một câu chào, vừa là một câu chúc.

Thời nay câu này dần dần biến mất vì hết chiến tranh, với lại đã thắng rồi thì chắc không cần chúc nhau thắng lợi nữa. Nhưng vẫn có một số thanh niên kiểu cách, hay kiểu cổ vẫn dùng câu này, với ý nghĩa "thắng" là trúng quả, tốt nghiệp đại học, đạt thành tựu gì đó. Dù sao thì nó đã tương đối lạc hậu và không còn thịnh hành, tới mức không nhiều người còn hiểu rõ ý nghĩa và bối cảnh của nó.

ごきげんよう!
Takahashi

Bảng hán tự tra và học 739 chữ kanji JLPT N2

Đây là bảng 739 chữ hán tự trình độ JLPT N2 phỏng theo giáo trình Soumatome N2.
Hơ con trỏ lên hoặc nhấp con trỏ/chạm vào chữ kanji để xem nghĩa và cách đọc. Nhấp con trỏ/chạm vào bộ thủ để nhảy tới chữ kanji có bộ thủ đó. Lưu ý: Bộ thủ nào không có chữ kanji sẽ không nhảy tới và không phải bộ thủ nào cũng có chữ kanji trong bảng này.
Bảng này được list tại trang KANJI.

Bảng hán tự 739 chữ kanji N2 (Soumatome)

Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

"Sợ quéo càng" là gì? Dịch "sợ gần chết" ra tiếng Nhật ...

"Sợ quéo càng"

Đây là ngôn ngữ của người nuôi chó. Cũng như "dỏng tai lên nghe" cũng là ngôn ngữ của người nuôi chó. Vì tai chó thường dài nên muốn nghe rõ hơn thì thường dỏng tai lên nghe ngóng. "Sợ quéo càng" chỉ là cách nói hình tượng chăng?

Thật ra thì đúng là chó sợ quéo càng thật và quán ngữ này là để mô tả việc sợ tới cứng đờ người thật. Ở nhà tôi nuôi chó nên vẫn nói "sợ quéo càng" suốt. Chó nhà tôi thì không sợ người vì không ai đánh chó cả mà chỉ có chó anh la mắng chó em thì đúng là thằng nhỏ sợ quéo càng thật.

"Sợ quéo càng" hay "sợ quíu càng" nghĩa là sợ tới mức mà chân tay không cử động được, co cứng lại vì sợ. Vậy thôi.

Khi bị anh la thì bé sẽ sợ "quéo càng"

Một số mức độ sợ và tiếng Nhật

Khi mô tả mức độ thì chúng ta dùng ほど HODO, tới mức như thế, ở level như thế.

Sợ gần chết hay sợ muốn chết = 死ぬほど怖い shinu hodo kowai
Sợ són ra quần (không són thật mà chỉ là hình tượng) = ちびるほど怖い chibiru hodo kowai

Vậy "sợ quéo càng" là gì? Quéo là co cứng lại, và càng là chỉ chân tay (手足 teashi) hay tứ chi (四肢 shishi):

Sợ quéo càng = 手足が固まるほど怖い teashi ga takamaru hodo kowai
Takahashi

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Bảng bộ thủ kanji tiếng Nhật đầy đủ (hỗ trợ smartphone)

Dùng trên PC: Hơ con trỏ lên bộ để xem nghĩa.
Dùng trên smartphone, tablet: Chạm vào chữ để hiện khung báo nghĩa.
△: Về đầu trang.
Bảng này được liệt kê tại chuyên trang KANJI trên trang web Saromalang.

Bảng bộ thủ hán tự tiếng Nhật đầy đủ

Hướng dẫn và công cụ học kanji cho các bạn tại lớp Cú Mèo

Đối với các bạn tại lớp Cú Mèo luyện thi JLPT thì Saromalang sẽ phát tài liệu để các bạn tự học kanji bên cạnh thỉnh thoảng có thể sẽ kiểm tra và hướng dẫn cách học trên lớp.

Trong bài này lớp học Cú Mèo sẽ giới thiệu thêm một số công cụ luyện kanji để các bạn tự luyện tập ở nhà.

Phác thảo cách học kanji tại lớp Cú Mèo

Hướng dẫn học kanji bằng hình ảnh tại fb.com/saromaclass

Check tại album Học kanji bằng hình ảnh (đang xây dựng dần).

Tra cách viết chữ kanji, thứ tự viết, số nét

Xem hướng dẫn tra cách viết kanji tại Saromalang hoặc mở trực tiếp trang http://kakijun.jp/ hoặc từ điển kanji Sakura http://dict.v01.jp/.

Tra cách đọc kanji ra roomaji bằng Google Translate

Xem hướng dẫn tại Saromalang hoặc mở trực tiếp Google Translate (có thể mở từ cột bên phải trang web này nếu bạn mở trang web trên PC).

Chuyển chữ kanji hay câu tiếng Nhật sang hiragana, roomaji vv

Sử dụng trang Kanji Converter.

Hướng dẫn cách học kanji theo từng trình độ JLPT tại Saromalang

Bạn hãy mở trang KANJI của Saromalang. Tại đây hướng dẫn mọi thứ để học kanji cho bạn gồm có 50 bộ thủ phổ biến của kanji, các bộ thủ hán tự tiếng Nhật đầy đủ, bảng hán tự thường dụng 2136 chữ kanji, hướng dẫn cách suy luận âm tiếng Việt của kanji sang âm tiếng Nhật, vv.

Tóm lại, mọi thứ về kanji sẽ tổng kết tại TRANG KANJI. Hãy check trang này khi bạn học kanji.
Takahashi

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Bảng hán tự 103 chữ kanji JLPT N5

Đây là bảng 103 chữ hán tự trình độ JLPT N5 phỏng theo trang NihongoIchiban.
Hơ con trỏ lên hoặc nhấp con trỏ/chạm vào chữ kanji để xem nghĩa và cách đọc. Nhấp con trỏ/chạm vào bộ thủ để nhảy tới chữ kanji có bộ thủ đó. Lưu ý: Bộ thủ nào không có chữ kanji sẽ không nhảy tới và không phải bộ thủ nào cũng có chữ kanji trong bảng này.
Bảng này được list tại trang KANJI.

Bảng hán tự 103 chữ kanji N5

Động từ dạng sai khiến: Có thể thay trợ từ に NI bằng を WO

Nhân tiện việc xem cuốn Từ điển mẫu câu tiếng Nhật mà tôi mới giới thiệu thì ở trang 190-191 có mẫu:
NはNに/をVさせる và NはNをVさせる

Như vậy động từ dạng sai khiến không nhất thiết cứ phải là trợ từ に mà có thể dùng trợ từ を, ví dụ (trong sách):

彼はいつも冗談を言ってみんなを笑わせる。

Đây là kết quả tra trên mạng:

僕は何度も何度も親に嘘をついて、親を失望させてしまっています。
子どもは親の想像以上に、 「親をがっかりさせたくない」 と言う気持ちを持っています。
人を笑わせるコツをつかむ!おもしろい人間になる17の方法!
楽しく会話をするためには、相手を笑わせられるように意識をしましょう。

Bảng hán tự 181 chữ kanji N4

Đây là bảng 181 chữ hán tự trình độ JLPT N4 phỏng theo trang NihongoIchiban.
Hơ con trỏ lên hoặc nhấp con trỏ/chạm vào chữ kanji để xem nghĩa và cách đọc. Nhấp con trỏ/chạm vào bộ thủ để nhảy tới chữ kanji có bộ thủ đó. Lưu ý: Bộ thủ nào không có chữ kanji sẽ không nhảy tới và không phải bộ thủ nào cũng có chữ kanji trong bảng này.
Bảng này được list tại trang KANJI.

Bảng hán tự 181 chữ kanji N4

Bảng học kanji N3: 336 chữ kanji N3 (Soumatome)

Đây là bảng 336 chữ hán tự trình độ JLPT N3 phỏng theo giáo trình Soumatome N3.
Hơ con trỏ lên hoặc nhấp con trỏ/chạm vào chữ kanji để xem nghĩa và cách đọc. Nhấp con trỏ/chạm vào bộ thủ để nhảy tới chữ kanji có bộ thủ đó. Lưu ý: Bộ thủ nào không có chữ kanji sẽ không nhảy tới và không phải bộ thủ nào cũng có chữ kanji trong 336 chữ này.
Bảng này được list tại trang KANJI.

Bảng hán tự 336 chữ kanji N3 (Soumatome)

Giới thiệu sách "Từ điển mẫu câu tiếng Nhật"

"Từ điển mẫu câu tiếng Nhật" theo tôi có lẽ là cuốn từ điển mẫu câu tốt nhất và đầy đủ nhất hiện nay, đang bán với giá bìa 250k, bạn có thể mua online. Tôi đã mua cuốn này online của Fahasa.
Lưu ý: Có nhiều nơi bán nhưng theo tôi hãy mua ở nguồn tin cậy để đảm bảo là sách chính thức có bản quyền, tránh tuyệt đối mua sách lậu cho dù rẻ hơn.

NÓI KHÔNG VỚI SÁCH LẬU VI PHẠM BẢN QUYỀN!

Vì thế, tôi mua với giá bìa 250k, đặt hàng chỉ hôm sau là tới.

Đây là hình ảnh sách:

Bìa trước cuốn "Từ điển mẫu câu tiếng Nhật"

Bìa sau sách, sách bản quyền phải có tem chống in lậu

Trang nội dung sách, chia làm hai cột

Giới thiệu của Saromalang về cuốn "Từ điển mẫu câu tiếng Nhật"

Tên sách tiếng Nhật: 教師と学習者のための日本語文型辞典
Tên tiếng Việt: Từ điển mẫu câu tiếng Nhật - Dùng cho giáo viên và học viên

Nhà xuất bản Kuroshio (くろしお出版), nhóm Jammassy biên soạn.
Xuất bản tại VN: Nhà xuất bản Giáo dục VN.
Giá bìa: 250k
Cân nặng: Gần 1kg
Số trang nội dung: 965 trang
Loại bìa: Bìa cứng
Khổ: 15cm x 21cm
Bề dày sách: 5cm
Chất lượng giấy: Mỏng, trắng bóng
Tái bản lần thứ sáu
Số lượng in: 2050 cuốn
Mua tại: Ví dụ trang Fahasa online

Nhóm Jammassy là ai?Họ là Jammassy Group gồm Sunakawa Yuriko (đại diện), Komada Satoshi, Shimoda Mitsuko, Suzuki Mutsumi, Tsutsui Sayo, Hasunuma Akiko, Andrej Bekeš, Morimoto Junko. Người Nhật thì họ trước tên sau, còn người nước ngoài thì tên trước họ sau. Nhóm Jammassy là lấy tên của mọi người trong nhóm ghép lại Junko Andrej Mutsumi Mitsuko Akiko Sayo Satoshi Yuriko thành JAMMASSY. Đây là suy luận của tôi thôi.

Về nội dung và chất lượng dịch

Nội dung phong phú, đầy đủ câu ví dụ tiếng Nhật với cách đọc được in nhỏ trên chữ kanji và câu dịch tiếng Việt. Tức là nội dung là song ngữ Nhật Việt nên khá thuận tiện. Các mục ngữ pháp được xếp theo thứ tự 50 âm tiếng Nhật nên được gọi là "từ điển mẫu câu" vì bạn có thể dễ dàng tra cứu được.

Về chất lượng dịch thì tôi xem qua thì thấy dịch ngữ nghĩa khá tốt còn về dịch đúng sắc thái thì tôi TIN rằng Saromalang có thể dịch tốt hơn.

Tôi ví dụ ở trang 610 (chỉ là lật ngẫu nhiên không phải chủ đích) có mẫu:
[Trích từ sách]
【なんか…ものか】 (tôi) tuyệt đối không thèm V cái loại[...なんかV-るものか]
(1) 家になんか帰ってやるものか。 Tôi tuyệt đối không thèm trở về nhà.
(2) 誰がそんな話なんか信じるものか。 Tuyệt dối không ai thèm tin một câu chuyện như thế.
(3) あんな男なんか二度と口を利いてやるものか。 Tôi tuyệt đối không thèm nói chuyện với loại đàn ông như thế lần thứ hai.
(4) あんなひとに教えてなんかやるものか。 Tôi tuyệt đối không thèm dạy cho cái thứ người như thế.
[Hết trích]

Cách dịch trên thì đúng về ngữ nghĩa tuy nhiên về sắc thái thì tôi thấy ... không ổn lắm. Bạn tuyệt đối không làm gì thì phải là 絶対・・・しない, quyết không làm gì là 決して・・・しない đúng không nhỉ?
Tại Saromalang thì đã hướng dẫn mẫu ngữ pháp ものか và dịch đúng ngữ nghĩa cũng như sắc thái là "chẳng lẽ (lại làm gì đó)".

Các câu trên Saromalang sẽ dịch là:
(1) Chẳng lẽ tôi lại thèm về loại như nhà tôi.
(2) Chẳng lẽ có ai lại tin loại câu chuyện như thế.
(3) Chẳng lẽ tôi lại thèm bắt chuyện lần nữa với loại đàn ông thế kia.
(4) Chẳng lẽ tôi lại thèm đi dạy cho người thế kia.

Cấu trúc của sách "Từ điển mẫu câu tiếng Nhật"

Trang bìa trong - trang ii: Bìa và bản quyền
Trang iii - trang v: Lời nói đầu (của nguyên tác tiếng Nhật)
Trang vi - trang viii: Lời nói đầu (của nhóm dịch giả)
Trang ix - trang xvi: CHÚ GIẢI
Trang ix: Bố cục và cách sử dụng cuốn từ điển này
Trang xi: Bảng liệt kê các thuật ngữ ngữ pháp
Trang xiii: Bảng liệt kê các ký hiệu

Trang 1 - trang 965: Nội dung "Từ điển mẫu câu tiếng Nhật" 日本語文型辞典 (song ngữ Nhật Việt, mỗi trang chia 2 cột, sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái 50 âm tiếng Nhật)

Trang 967 - trang 989: Bảng tra xếp theo thứ tự 50 âm tiết 50音順索引

Trang 991 - trang 999: Bảng tra ngược 末尾逆引き索引

Trang 1101 - trang 1014: Bảng tra xếp theo ý nghĩa và chức năng 意味・機能別項目索引

Trang 1015: Giới thiệu nhóm tác giả và nhóm dịch

Các bạn dạy và học tiếng Nhật nên mua sách

Đây là một cuốn sách hay để các bạn có thể tra cứu ngữ pháp. Hơn nữa, các bạn có thể học ngữ pháp theo kiểu ngẫu nhiên bằng cách lật ra một trang bất kỳ. Đây là lợi thế của sách giấy. Với các câu ví dụ được dịch song ngữ bạn cũng có thể học ngữ nghĩa, cách dịch từ trong sách nữa.

Các câu trong sách được viết một cách văn chương, cầu kỳ, nên nếu bạn học được thì bên cạnh năng lực đọc hiểu tiếng Nhật, năng lực diễn đạt của bạn cũng sẽ tăng lên.

Do đó, cuốn này có thể coi là sách gối đầu dường với các bạn dạy và học tiếng Nhật.

Hãy mua sách có bản quyền vì tiền sách không đáng mấy so với tiền đi học trên lớp, ăn uống, vui chơi, sinh nhật của các bạn. Nếu thật sự thiếu tiền, hãy bỏ rơi bạn bè đứng cuối danh sách mà bạn vẫn thường đi sinh nhật để mua sách có bản quyền. Nếu vẫn thiếu, hãy bỏ rơi toàn bộ bạn bè của bạn vì theo tôi, tiếng Nhật quan trọng hơn bạn bè nhiều (với lại nếu bạn nghèo tới mức không có tiền mua sách thì chứng tỏ bạn cũng toàn chơi với những người giống bạn, mà tối kị là chơi với những người nghèo giống mình rồi tất cả dắt tay nhau xuống hố). Về cơ bản trong cuộc đời thì sách vở hoc tập kiến thức, kỹ năng (không phải sách tôn giáo) là rất quan trọng và hãy mua sách có bản quyền để chứng tỏ bạn là người có sự tôn trọng và không so đo tính toán tiền mua sách vở.
Takahashi