"Không bao giờ lo thất nghiệp"

Học ngành điều dưỡng bậc đại học tại Nhật Bản


Học tiếng Nhật 1 năm + đại học 4 năm >>chi tiết

ĐĂNG KÝ LỚP HỌC ONLINE QUA EMAIL

Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017

Tuyển sinh lớp Cú Mèo tháng 10 năm 2017

Thông báo lịch một số lớp. Vì thời gian cho tới kỳ thi JLPT tháng 12 cũng không còn mấy nữa và đợt này cũng là đợt bận rộn nên lớp Cú sẽ chỉ học tiếp ngữ pháp, từ vựng. Việc ôn thi các bạn phải tự chủ và tự giác. Đây là lớp để học không phải để luyện thi vì chắc chắn là không đủ thời gian. Với các bạn đang học dở ngữ pháp thì sẽ học dịch tiếp cho tới hết ngữ pháp và sẽ học từ vựng nữa.

CONCEPT: HỌC THEO NHU CẦU, GIỎI THEO NĂNG LỰC

Học kiểu cấp tốc về lâu dài chẳng hữu ích cho bất kỳ ai. Hãy học hiểu và đào sâu suy nghĩ. Tại lớp thì tôi sẽ tập trung chỉ cách TƯ DUY NGÔN NGỮ chứ không chỉ dạy chay tiếng Nhật, sau đó vì không tư duy được nên dịch và hiểu chẳng ra sao cả.

Ví dụ:
Dịch "Ai nhớ chăng ai" hay "Rau ngót" ra tiếng Nhật. Làm sao để dịch ra tiếng Nhật đúng SẮC THÁI? Bạn phải hiểu rõ tiếng Việt và phân tích đúng ngữ nghĩa, sắc thái. Đây không phải là bạn giỏi tiếng Nhật hay không, mà bạn diễn đạt và hiểu tiếng Việt tốt hay không.

Một người không hiểu và diễn đạt tốt tiếng mẹ đẻ sẽ không thể dịch tốt.

Tóm lại thì hãy đọc về Lớp Cú MèoPhương pháp X.

Trên lớp học các bạn sẽ được cung cấp bảng ngữ pháp, từ vựng và có thể là cả cách dịch nữa. Việc các bạn cần làm là dịch câu, đặt câu TRƯỚC KHI TỚI LỚP. Trên lớp sẽ chữa và dành thời gian phân tích, hỏi đáp.

Nếu bạn không thể tự chủ, tự giác trong việc học thì chịu thôi, sẽ chẳng ai giỏi cả! ^^ Lớp học tuyệt đối không phải là liều thuốc tiên giúp bạn giỏi tiếng Nhật, mà chỉ giới thiệu cách học đúng đắn, tư duy đúng đắn về ngôn ngữ mà thôi.

Với các bạn cần học lâu dài thì tham khảo Tìm trường Nhật ngữ VN. Bạn nên tìm chỗ nào gần nhà là tốt nhất.

Đăng ký và học phí

Để đăng ký và xem học phí hãy xem tại Lớp Cú Mèo.

Bạn nào chưa từng đăng ký phải đăng ký form trước, Cú Mèo sẽ hướng dẫn đường đi. Các bạn đã đăng ký trước đây thì hãy gửi email theo như hướng dẫn không cần nộp lại form.

Còn còn một số bạn đã đóng tiền mà chưa đi học cũng hãy liên lạc nhé.

Lịch học (dự kiến)

Lớp N3: Thứ 6 từ 18:30, thứ 7 từ 17:00
Lớp N2: Thứ 2 và thứ 4, từ 18:30

Lớp N1 và dịch: Dựa theo nguyện vọng, sẽ xếp từ thứ 2 tới thứ 5 khoảng 2 buổi/tuần

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

将来有望 TƯƠNG LAI HỮU VỌNG và 燦爛 XÁN LẠN

将来有望 TƯƠNG LAI HỮU VỌNG

しょうらいゆうぼう。 Có tương lai tươi sáng.

Tức là nhất định sẽ 出世する(しゅっせする) = thành công trong đời (xuất thế).

Trong tiếng Nhật thì 出世 nghĩa là "thành công trong đời", người ta cũng hay nói 立身出世(りっしん・しゅっせ) LẬP THÂN - XUẤT THẾ tức là mục tiêu, nhất của của nam giới, trong cuộc đời đó là có thể tự lập và thành công, có danh vọng trong đời.
=> 成功する(せいこうする) thành công, 成功者(せいこうしゃ) người thành công, người thành đạt

Chữ 出世 không hề có nghĩa là "ra đời", "ra đời" thì sẽ nói là 出生する(しゅっせいする) hoặc 生まれる(うまれる) . Nhân tiện UMARERU nghĩa đen là bị đẻ 生む UMU ra ^^.

Mục tiêu của đàn ông Nhật Bản được dạy từ nhỏ là phải LẬP THÂN XUẤT THẾ. Vì thế, ở Nhật mà kiểu đàn ông nhậu nhẹt bê tha không được đánh giá cao và sẽ bị xa lánh. Ăn bám mẹ, ăn bám vợ là TỐI KỊ, ĐẠI KỊ ở Nhật vì sẽ chẳng ai tôn trọng hay chơi cùng cả.

TƯƠNG LAI HỮU VỌNG thì có nghĩa là trong tương lai có triển vọng, tức là có tương lai tươi sáng: Sẽ thành nhân vật quan trọng (VIP = Very Important Person), hoặc thành công (出世 SHUSSE xuất thế), vv.

Vậy trái nghĩa với TƯƠNG LAI HỮU VỌNG (tương lai tươi sáng) là gì?

Có lẽ là 将来絶望 (tương lai tuyệt vọng) chăng?
Ha ha.
=> 絶望する(ぜつぼうする) tuyệt vọng

Tương lai tuyệt vọng nghĩa là sẽ thất bại, hoặc trở thành VUP (Very Unimportant Person) tức là "người rất không quan trọng". Nghĩa là trở thành LOSER.
Tiếng Nhật gọi LOSER là 負け犬 MAKEINU (con chó thua thiệt/kẻ thua cuộc) hoặc 負け組 MAKEGUMI (kẻ thua cuộc).

Nhân tiện chúng ta học luôn câu quán ngữ: NỞ MÀY NỞ MẶT

将来有望な息子を持って私も鼻が高い
Có thằng con trai tương lai tươi sáng nên tôi cũng nở mày nở mặt

鼻が高い(はながたかい) tức là mũi vểnh lên cao vì cảm xúc tự hào, tiếng Việt gọi là "nở mày nở mặt" hay "mát lòng mát dạ". "Nở mày nở mặt" là cảm xúc tự hào "sục sôi" thể hiện ra mặt không giấu nổi hoặc không định giấu giếm. Còn "mát lòng mát dạ" thường là chỉ cảm giác tự hào bên trong chưa chắc đã thể hiện ra. Do đó HANA GA TAKAI là NỞ MÀY NỞ MẶT nhỉ?

Chắc là do dopamin tiết ra nhiều, máu lưu thông tốt nên mặt trở nên hồng hào hơn (do "nhiệt huyết") nên trong có vẻ "nở" ra chăng? Hay ít ra, người trong cuộc có cảm giác là mặt mình nở ra ^^

燦爛 XÁN LẠN

Tươi sáng rực rỡ. Rực sáng.
光り輝くさま。また、華やかで美しいさま。
Ví dụ:
燦爛と光る
燦爛たる光を放つ
燦爛たる烈日の下に燃え上る

XÁN LẠN hay SÁNG LẠNG, SÁNG LÃNG, SÁNG LẠN?

Tất nhiên là "xán lạn". Ví dụ "tương lai xán lạn" tức là "tương lai tươi sáng rực rỡ". Một thế giới mới xán lạn.

Sở dĩ người ta nhầm sang "sáng lạng" vì họ đã bị mất gốc ngôn ngữ hoặc không học nguồn gốc từ vựng tử tế. Bản thân chữ SÁNG trong Hán Việt là chữ 創 SÁNG thì có nghĩa là SÁNG TẠO tức là nghĩ ra, tạo ra cái mới, không hề có nghãi là tươi sáng gì cả.

Cách sử dụng đúng: Tương lai xán lạn. Một thế giới mới xán lạn.

Tóm lại thì hôm nay chúng ta học vài từ:
将来有望 Tương lai hữu vọng
燦爛 Xán lạn
出世する Xuất thế
立身出世 Lập thân xuất thế
成功する Thành công
絶望する Tuyệt vọng
鼻が高い HANA GA TAKAI
負け犬 MAKEINU
負け組 MAKEGUMI
Takahashi

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

Cách sử dụng 諸 CHƯ và 各 CÁC

しょ。CHƯ

かく。CÁC.

諸 CHƯ có nghĩa là "các" còn 各 CÁC có nghĩa là "mỗi":

諸国(しょこく) các nước (chư quốc)
諸問題(しょもんだい) các vấn đề (chư vấn đề)
諸侯(しょこう) chư hầu

諸君(しょくん) CHƯ QUÂN
Có nghĩa là "các em" ví dụ giáo viên gọi số đông học sinh, từ vị thế bên trên một cách trang trọng.

Sở dĩ gọi là "chư quân" vì gọi "anatagata" thì quá nhún nhường, gọi "anatatachi" thì lại bằng vai phải lứa. Thường thì gọi người trẻ hơn hay học sinh là 君(きみ) [quân]. Trường hợp này gọi "các em" nên dùng CHƯ QUÂN.

Chữ 諸 CHƯ rất quan trọng trong việc cấu tạo số nhiều (plural) trong tiếng Nhật và có thể dùng đại trà.

Ví dụ: 日本諸島(にほんしょとう) NHẬT BẢN CHƯ ĐẢO = các đảo Nhật Bản

各 CÁC thì có nghĩa là MỖI:

各国(かっこく) mỗi nước
各人(かくじん) mỗi người
各日(かくじつ) mỗi ngày
各自(かくじ) mỗi người, tự bản thân mỗi người
各地(かくち) mỗi vùng
各位(かくい) mỗi vị
=> 関係者各位 (gửi tới) mỗi vị liên quan / các vị có liên quan

Bài tập: Dịch ra tiếng Nhật (bôi highlight để nhìn chữ màu trắng)
1. Các quyền lợi của người sử dụng => 利用者の権利
2. Ở trường này thì mỗi phòng học đều có máy lạnh. => この学校では教室に全てエアコンが付いている。
3. Sách học thì các em hãy tự mỗi người chuẩn bị lấy. => テキストは諸君が各自で用意してください。
Takahashi

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

Chuyện về 伝 TRUYỀN/TRUYỆN

TRUYỀN/TRUYỆN

Trước đây đã có bài về "Truyện" hay "Chuyện" thì thật ra đều từ chữ này mà ra. Chữ này bên trái là bộ Nhân đứng (人) bên phải là chữ 云 VÂN (云々=うんぬん vân vân).
=> Phân biệt với 雲(くも) là VÂN (đám mây).

Nghĩa của chữ này là "truyện" hay "truyền tải, truyền đạt".

伝える(つたえる)
Truyền tải, truyền đạt, truyền đi. => Tha động từ

伝わる(つたわる)
(Cái gì) được truyền tải, truyền đạt, truyền đi => Tự động từ

伝う(つたう)
Men theo. Bám theo. => 石を伝って川を渡る
=> 手伝う(てつだう) giúp đỡ, giúp một tay

伝熱(でんねつ) truyền nhiệt, dẫn nhiệt

伝達(でんたつ) truyền đạt

伝説(でんせつ) truyền thuyết

自伝(じでん) tự truyện

列伝(れつでん) liệt truyện

伝記(でんき) truyện ký

伝奇(でんき) truyền kỳ

武勇伝
ぶゆうでん。 VŨ DŨNG TRUYỆN.
(1) Anh hùng truyện = câu chuyện kể về (thời) anh hùng
(2) Chuyện yêng hùng, thói yêng hùng.

VŨ 武 là "võ, võ thuật, vũ lực"
DŨNG 勇 là dũng khí, can đảm, anh dũng.

Bài tập: "Thói yêng hùng" nghĩa là gì?

Lợi thế của việc học kanji bằng âm hán việt là "ăn gian" được vô số từ vựng. Bạn nghĩ tôi học từ vựng bằng cách nào? Học từng từ thì ăn cám chắc. Trong cuộc đời nếu muốn thành công phải luôn "cheat" (ăn gian). Tôi có hàng đống "cheat sheet" đây. ^^
Takahashi

Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2017

Sổ tay tư duy từ vựng

Vì sao người học giỏi tiếng Anh cũng thường học giỏi tiếng Nhật?

Vì họ đã dành thời gian và nỗ lực gấp đôi người khác?
Vì não họ to gấp đôi người khác?
Vì họ sử dụng não gấp đôi người khác?

Thật khó có thể nghĩ như vậy. Vì thời nay có ai còn học tập mấy đâu ^^ Học tập chăm chỉ, cơ bắp không mấy đảm bảo thành công. Dù bạn học toán, vật lý, tiếng Anh, tiếng Nhật hay môn nào đi nữa, thì điều quan trọng nhất là CÁCH HỌC, CÁCH TƯ DUY. Trong cuộc sống người đã học giỏi thì họ còn học giỏi nhiều môn, vừa giỏi toán, lý lại vừa giỏi tiếng Nhật.

Vì họ sử dụng não hiệu quả hơn người khác? Một phần. Nhưng theo tôi cách tư duy khác nhau. Sở dĩ bạn giỏi tiếng Anh là vì bạn tư duy tốt, hơn là thật sự bạn học gạo và nhồi nhét vào đầu. Chính vì thế khi học thêm ngôn ngữ thứ hai bạn cũng dễ giỏi hơn nhiều.

Giáo dục nói chung và giáo dục ngôn ngữ nói riêng mà không học dựa trên cách học, cách tư duy chỉ nhồi nhét kiến thức thì chắc chắn sẽ thất bại. Riêng ngôn ngữ thì còn phải chú trọng việc SO SÁNH giữa cách ngôn ngữ với nhau đặc biệt SO SÁNH SẮC THÁI các mẫu ngữ pháp tương đồng.

Để làm điều này thì bước đầu tiên và quan trọng nhất là GIỎI NGÔN NGỮ MẸ ĐẺ. Những người viết tiếng Việt dở thì thường học ngoại ngữ cũng dở theo. Điều đó không có nghĩa là bạn sẽ dở mãi mà bạn phải tập viết nhiều. Khả năng tiếng Nhật thật sự không phải là giao tiếp mà là khả năng viết tiếng Nhật. Và để viết tốt thì bạn cần VỐN TỪ, mà muốn có vốn từ thì phải học cách tư duy từ vựng đúng đắn.

Sơ đồ đề xuất của lớp Cú Mèo về học từ vựng

Vì thế, khi học tiếng Nhật - tại lớp Cú Mèo Saromalang hay tại bất kỳ lớp nào - bạn cần có SỔ TAY TƯ DUY TỪ VỰNG, sổ tay vật lý thật sự, bằng giấy và viết lên được. Vì nhiều bạn sẽ mở note trong điện thoại thì lại chẳng bao giờ xem lại chỉ có điện thoại nhớ được còn bản thân chẳng nhớ được thêm từ nào có khi còn quên luôn cả note nằm ở đâu. Chẳng có gì gây sao nhãng hơn điện thoại cả.

"Sổ tay tư duy từ vựng" tại lớp Cú Mèo

Khi học tại lớp Cú Mèo bắt buộc phải có "Sổ tay tư duy từ vựng". Không có nghĩa là bạn chép chính tả từ vựng vào đây vì danh sách ngữ pháp và danh sách từ vựng được in riêng rồi. Sổ tay chỉ là để ghi cách tư duy từ vựng ví dụ theo sơ đồ trên.

Ngoài ra, sổ tay là để học cách tư duy, còn về lâu dài thì phải biết cách tra từ điển. Sổ tay tư duy từ vựng cũng giúp ích cho bạn trong việc học cách dịch đúng sang tiếng Việt.

Đấy là việc học ngoại ngữ và ngôn ngữ. Còn trong cuộc đời càng có nhiều sổ tay thường sẽ càng thành công hơn, không phải vì sau này bán sổ tay kiếm được tiền mà vì bạn TƯ DUY tốt hơn. Giờ còn ai dùng não tư duy nữa đâu, người ta tư duy bằng sổ tay hết rồi.
Takahashi

Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2017

Vẫn lại "NHỚ": Phân biệt 懐かしい、恋しい、愛しい

Trong bài trước tôi đã nói về cách dịch I miss you nhưng có rất nhiều từ để diễn tả nỗi nhớ.

Hôm nay chúng ta phân biệt 3 từ này:
①懐かしい NATSUKASHII [hoài]
②恋しい KOISHII [luyến]
③愛しい ITOSHII [ái]

懐かしい NATSUKASHII

Chúng cũng là "nhớ" nhưng khác nhau thế nào về SẮC THÁI?

Ví dụ: 日本生活が懐かしい。 Tôi nhớ cuộc sống Nhật Bản.
ところでうそです。実は懐かしくないわ。 ^^

NATSUKASHII nghĩa là nhớ về ngày xưa, nhớ về quá khứ, về những thứ đã xảy ra.

Ví dụ chúng ta có thể nói: このビールは懐かしい。 Bia này làm tôi nhớ (về ngày xưa tôi từng uống) quá.

Tức là trước đây bạn từng làm như thế, đã có kinh nghiệm làm thế. => Xem かつて

Tóm lại là bạn BỒI HỒI LƯU LUYẾN về quá khứ thì sẽ dùng NATSUKASHII.

=> 日本ドラマを見るたびに大学時代を懐かしく思う。

Tức là cảm xúc NOSTALGIC.

Ai nhớ chăng ai

恋しい KOISHII

Chữ LUYẾN, thường chỉ cảm xúc "nhớ nhung". "Nhớ nhung" là cảm giác bạn không ở cạnh ai đó và nhớ người đó tới mức cảm thấy khó chịu.

恋しい人
別れた人が恋しい

Bạn cũng có thể nói cho sự vật 寒くなると火が恋しい vì bạn đang khó chịu vì cái lạnh thì bạn sẽ "nhớ nhung" ngọn lửa.

愛しい ITOSHII

ITOSHII thì lại là cảm giác "thương nhớ, nhớ thương" thường dùng với người yêu hay người khác giới.
愛しい人 người mà tôi thương nhớ
愛しい君へ Gửi em người mà tôi thương nhớ / người thân thương

Bạn cảm thấy "thương" ai đó vì họ quá đáng thương cũng dùng ITOSHII = 気の毒 KINODOKU.

=> 哀れな境遇を愛しく思う = Tôi thấy thương cho cảnh ngộ đáng thương

Làm sao để nhớ các từ này?

しい là để tạo ra tính từ thôi.

恋 KOI là tình yêu nam nữ thì thêm SHII vào để thành tính từ NHỚ NHUNG.

懐かしい NATSUKASHII => NATSU mùa hè, KA nào đó => mùa hè nào đó tươi đẹp thì nhớ thôi, về quá khứ tươi đẹp, mà quá khứ bao giờ chẳng tươi đẹp nhỉ? Đây chỉ là bịa đặt để cho dễ nhớ.

Còn ITOSHII?

糸 ITO = sợi chỉ, sợi dây liên kết chính là tình cảm, nên ITOSHII là thương nhớ thôi.

Tất cả chỉ là bịa đặt!
Vì thế học tiếng Nhật như JOKER thì có vẻ 将来有望(しょうらいゆうぼう) TƯƠNG LAI HỮU VỌNG.

Bài tập: Vận dụng kiến thức trong bài này dịch các câu sau sang tiếng Nhật.
1. Ngày buồn, tháng nhớ, năm thương. / Ngày buồn, tháng nhớ, năm mong.
2. Thương ai nhớ ai
3. (Nâng cao) Ai nhớ chăng ai
Takahashi

Phân biệt "định kiến" và "thành kiến"

"Định kiến" và "thành kiến" khác nhau như thế nào?

"Định kiến" là dạng quan điểm đã được hình thành sẵn về mặt xã hội, tôn giáo vv của một tập đoàn đối với một tập đoàn khác. Thông thường chúng ta sử dụng dưới dạng cụm từ "định kiến xã hội" tức là quan điểm, ý kiến đã cố định của xã hội đối với một đối tượng nào đó.

Ví dụ: Định kiến xã hội đối với người bị bệnh tâm thần

Như vậy "định kiến" là quan điểm, ý kiến đã HÌNH THÀNH TRƯỚC trải nghiệm thực tế. Bạn không cần trải nghiệm đã có sẵn định kiến như thế, thường là do xã hội, tập đoàn tôn giáo vv nhồi sọ sẵn.

Còn "thành kiến" thì lại hơi khác: THÔNG QUA TRẢI NGHIỆM của chính bạn mà hình thành ý kiến, quan điểm về một tập thể, nhóm người nào đó.

Tóm lại thì "định kiến" là thứ có trước cả trải nghiệm thực tế, còn "thành kiến" là thứ mà có sau trải nghiệm thực tế của cá nhân bạn (có thể là nhiều lần với nhiều đối tượng).

Ví dụ: Từ những trải nghiệm không mấy vui vẻ, cậu ấy đã bắt đầu có thành kiến với người Nhật rằng họ lịch sự một cách giả tạo.

Về chữ hán thì định kiến là 定見 còn thành kiến là 成見 nhưng chữ 成見 không sử dụng như từ ngữ trong tiếng Nhật.

Ngoài ra còn có THIÊN KIẾN (偏見=へんけん) tức là cách nhìn thiên lệch, lệch về một phía.

"Định kiến" hay "thành kiến" thường dẫn đến PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ:

差別
さべつ。[Sai biệt] = Phân biệt đối xử, DISCRIMINATION

Trong tiếng Nhật thì:
Định kiến = 先入観(せんにゅうかん)
Thành kiến = 抵抗感(ていこうかん)?違和感(いわかん)?

Bài tập: Tìm hiểu ý nghĩa các từ sau
偏見(へんけん) [thiên kiến]
定見(ていけん) [định kiến]
抵抗感(ていこうかん) [đề kháng cảm]
違和感(いわかん) [vi hòa cảm]
固定観念(こていかんねん) [cố định quan niệm]
固着観念(こちゃくかんねん) [cố trước quan niệm]
執着(しゅうちゃく) [chấp trước]
思い込み(おもいこみ)

Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017

Từ kanji có nghĩa khác hẳn tiếng Việt: "Trụy lạc" 墜落

墜落
ついらく。TRỤY LẠC

Ý nghĩa: Rơi từ trên cao xuống. Không có nghĩa là "trụy lạc" như trong tiếng Việt.

墜落。

Ví dụ: 飛行機墜落事故 tai nạn rơi máy bay
飛行機が墜落する máy bay rơi

Vậy "trụy lạc" trong tiếng Nhật sẽ nói thế nào? Đó lại là:

堕落
だらく。ĐỌA LẠC

Khi muốn nói ai trụy lạc hay sa đọa thì sẽ nói là "ĐỌA LẠC".

Ngoài ra còn có HÃM LẠC:

陥落
かんらく。HÃM LẠC

Có nghĩa là "sụp đổ". Cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, ví dụ:

地盤の陥落 sự sụp đổ nền đất
サイゴンの陥落 sự sụp đổ của Saigon (The Fall of Saigon)

Lại nhân nói về chữ HÃM thì "hãm" nghĩa là giam cầm, giữ lại không cho thoát ra ví dụ GIAM HÃM, HÃM TÀI (tài năng ở mức độ thấp không phát tiết ra được) - maybe ^^, HÃM HẠI (lừa vào bẫy và làm hại), HÃM THÀNH (vây thành kín tới mức không cho ai thoát ra trừ khi mở một con đường máu HUYẾT LỘ 血路=けつろ).

Ngoài ra, tiếng Nhật cũng có 放蕩(ほうとう)(する) nghĩa là "phóng đãng" như tiếng Việt.
Còn "chơi bời" thì tiếng Nhật gọi là 道楽(どうらく) ĐẠO LẠC. Có lẽ là ra đường (đạo) tìm niềm vui (lạc).
=> 「道楽で身をもちくずす」「道楽息子」

Bản thân chữ 落 LẠC thì có nghĩa là rơi: 落ちる(おちる) = rơi, rớt (kỳ thi, đại học vv)

部落(ぶらく) = bộ lạc
段落(だんらく) ĐOẠN LẠC = đoạn văn, đoạn, paragraph

Như vậy chữ LẠC 落 không chỉ có nghĩa là rơi hay rớt ra mà còn có nghĩa là TÁCH RỜI RA như trong "bộ lạc" hay "đoạn lạc".

Giống như cái gì LẠC LOÀI ra vậy. Kẻ lạc loài tức là đứng riêng ra không cùng bản sắc, ý thức hệ, vv.

Trong tiếng Nhật còn có 落語 RAKUGO LẠC NGỮ, đây là kiểu độc thoại kể những câu chuyện buồn cười, khôi hài, bạn có thể coi trên ti vi Nhật hay trên Yêu Tuýp. LẠC NGỮ có thể hiểu là ngôn ngữ lạc loài, "chuyện trớt quớt", câu chuyện kỳ lạ nhìn theo góc nhìn khác với cách thông thường? Who knows!
Takahashi

Học ngữ pháp JLPT N1 với "No Sacrifice, No Victory" (Không có hi sinh thì không có chiến thắng)

Học ngữ pháp JLPT N1:
No Sacrifice, No Victory
Không có hi sinh thì không có chiến thắng

Chúng ta sẽ dùng mẫu ngữ pháp Nなしに(は) hoặc Nなくして(は)。 Đây là các mẫu ngữ pháp JLPT N1, chắc thế ^^

No Sacrifice, No Victory
①犠牲なくして勝利なし
②犠牲なしに勝利なし
③犠牲なくしては勝利はない
④犠牲なしには勝利はない

Trong câu trên thì 犠牲 đọc là ぎせい và đây đúng là chữ "hi sinh", cả hai đều có bộ NGƯU 牛 (bò trong tiếng Nhật, trâu trong tiếng Việt), bên cạnh là NGHĨA 義 (trong "đại nghĩa, nghĩa lý") và 生 SINH (sống).

Còn 勝利 đọc là しょうり và chữ hán là "thắng lợi" nghĩa là "chiến thắng".

Hoặc ví dụ câu khẩu hiệu này:

感謝なくして努力なし 努力なくして成功なし
Kansha nakushite doryoku nashi, Doryoku nakushite seikou nashi
“Không có lòng biết ơn sẽ không có nỗ lực, Không có nỗ lực sẽ không có thành công”

Bài tập 1: Dịch Nhật => Việt.
Dịch các câu từ 1 tới 4 trên ra tiếng Việt cho đúng SẮC THÁI.
Nguyên tắc: Các câu khác nhau phải dịch khác nhau.

Bài tập 2: Dịch Việt => Nhật.
Dịch các câu sau ra tiếng Nhật.
Không có học tập và trải nghiệm thì không có ước mơ và lý tưởng.
Không có sự cai trị đúng đắn thì sẽ không có công lý và trật tự.

Từ vựng: 学習(がくしゅう) học tập, 体験(たいけん) trải nghiệm, 夢(ゆめ) ước mơ, 理想(りそう) lý tưởng.
統治(とうち) thống trị, cai trị => 正しい統治
正義(せいぎ) [chính nghĩa] công lý (JUSTICE)
秩序(ちつじょ) trật tự (ORDER)
Takahashi

Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

"Trâm anh thế phiệt" chữ hán là gì?

簪纓世閥
Trâm anh thế phiệt

簪纓世胄
Trâm anh thế trụ

簪纓世裔
Trâm anh thế duệ

簪纓世族
Trâm anh thế tộc

簪纓世家
Trâm anh thế gia

Ví dụ

Cô ấy có dòng dõi trâm anh thế phiệt.
Anh ta là con nhà trâm anh thế tộc.

Giải thích

簪 TRÂM là cây trâm cài tóc. => Tiếng Nhật là かんざし(簪)。
Lưu ý: Đây là chữ TRÂM (cây trâm) chứ không phải chữ CHÂM 針 tức là cái kim, cây kim => 針 hari cái kim (may áo vv), 針灸 harikyuu châm cứu, 方針 houshin phương châm.

纓 ANH là dải mũ (dải vải cài vào mũ để trang trí).
"Trâm anh" 簪纓 là chỉ người cao sang quyền quý.

Kanzashi (cây trâm)

世 THẾ là "đời", 閥 PHIỆT là những người có quyền thế, quyền lực (財閥 tài phiệt, tiếng Nhật đọc là zaibatsu, tiếng Hàn đọc là chaebol).

Thế phiệt là người có quyền thế truyền từ đời trước.

Do đó, trâm anh thế phiệt chỉ chung những người cao sang quyền quý có nhiều quyền lực. Chẳng phải là tiền sẽ mua được quyền lực, và dùng quyền lực thì lại có tiền theo đúng phong cách hậu duệ - quan hệ - tiền tệ hay sao?

Vậy 世胄 THẾ TRỤ là như thế nào? Thế vẫn là đời trước còn Trụ là mũ đánh trận như trong chữ GIÁP TRỤ 甲冑 (áo giáp và mũ trụ). Tức là người có công trạng đời trước chăng? Tức là con cái của những bậc khai quốc công thần chẳng hạn.
=> 冑=かぶと

Kabuto = mũ trụ

世裔 THẾ DUỆ = hậu duệ của đời trước (có công lao công trạng và đang được hưởng lộc)
世族 THẾ TỘC = gia tộc của đời trước (quan lại có thế lực lớn)
世家 THẾ GIA = nhà, gia đình của đời trước

Tóm lại là nếu cha ông là bậc khai quốc công thần, đại quan vv thì con cháu sẽ kế thừa mà hưởng lộc vạn hộ vậy thôi. Đây gọi là "trâm anh thế phiệt".
Takahashi

"Hồn tiêu phách tán"? "Hồn xiêu phách lạc"?

Câu chuyện về "hồn" và "phách":

魂魄
こんぱく
HỒN PHÁCH

Đều gồm có chữ QUỶ 鬼, chữ Hồn thì bên trái là chữ 云 VÂN (vân vân 云々=うんぬん), còn chữ Phách bên trái là chữ BẠCH 白 (trắng).

"Hồn" là phần KHÍ 気 nâng đỡ về tinh thần (spirit, 精神=せいしん).
"Phách" là phần KHÍ 気 nâng đỡ về thể xác (body, 身体=しんたい).

Khí ở đây có thể hiểu là "sinh lực" (sức sống). => Chữ 気

Đây là các khái niệm của Đạo Giáo 道教。

Hồn tiêu phách tán = 魂消魄散
Hồn phiêu phách lạc = 魂漂魄落

Tiêu 消 là biến mất => 消える kieru
Tán 散 là rơi rụng mất => 花が散る hana ga chiru
Phiêu 漂 là bay đi => 漂う tadayou trôi nổi (hương thơm, âm nhạc)
Lạc 落 là rơi => 落ちる ochiru

Trong tiếng Việt thì cũng nói là "hồn xiêu phách tán" thì chữ "xiêu" có lẽ là đọc chệch của "tiêu" hay là "phiêu".

"Hồn tiêu phách tán" hay "hồn xiêu phách lạc" nghĩa là gì?

Nó giống câu "hồn vía lên mây" trong tiếng Việt, nghĩa là sợ hãi quá mức tới nỗi dường như mất tinh thần không suy nghĩ được nên làm gì nữa, và thể xác cũng đông cứng lại.

"Hồn" đã biến mất tiêu nên không thể nghĩ là nên làm gì, "phách" đã lạc mất, rơi rụng mất nên thân thể tê cứng không chuyển động được.

"Vía" tiếng Việt chính là tương ứng với "phách". "Hồn vía lên mây" tức là cả hồn và vía đều bay đi mất, tức là tê cứng cả tinh thần lẫn thể xác vì sợ hãi điều gì đó thường bất ngờ xảy ra.

Tóm lại thì "hồn" và "phách" ("vía") là gì?

Khi có ai đó sắp ra đi người ta sẽ hay gọi hồn về kiểu thế này:

"Ới ba hồn bảy vía ông X ơi ông ở đâu thì về với vợ với con!"
Đàn ông thì ba hồn bảy vía, đàn bà thì ba hồn chín vía. Đàn bà nhiều vía hơn đàn ông. Vậy thì ý nghĩa là gì?

Hồn sẽ điều khiển, chi phối tinh thần còn phách (vía) chi phối thể xác. Tôi nghĩ là phách (vía) tương ứng với dinh dưỡng bạn nạp vào, còn hồn tương ứng với sự học tập.

Tóm lại thì một con người gồm có 7 phần là thực phẩm ăn vào, 3 phần là học tập ý chí trong cuộc đời. Với đàn bà thì thực phẩm quan trọng hơn, nên họ có tới 9 vía, phần học tập của họ không quan trọng bằng.

Giải thích thế có đủ khoa học không nhỉ ^^
>>Tinh thần

Vì thế, dinh dưỡng là rất quan trọng trong cuộc đời. Bạn cần khôn ngoan về dinh dưỡng. Đồng thời, cũng phải học tập và rèn luyện để có tinh thần tốt.

Không thể sống trong sợ hãi!
Takahashi

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

本業 "Bản nghiệp" và 副業 "Phó nghiệp"

本業 "Bản nghiệp"? 副業 "Phó nghiệp"?

Cũng là từ gốc hán tự thôi mà nghe chẳng quen mấy nhỉ. "Bản nghiệp" là gì và "phó nghiệp" là gì?

Nghiệp 業 ở đây có nghĩa là "nghề", trong nghĩa "nghề nghiệp". Tất nhiên "nghiệp" còn có trong nghĩa đại nghiệp, sự nghiệp, nghiệp chướng. Chữ này thường đọc là ぎょう như 工業=こうぎょう công nghiệp、産業=さんぎょう sản nghiệp.

Nhưng trong ngôn ngữ từ thời Đường khi người Nhật học Phật giáo từ China thì còn đọc là ごう ví dụ như 自業自得(じごうじとく) "tự nghiệp tự đắc" tức là "tự làm tự chịu", cách nói dân dã của 自己責任(じこせきにん) "tự kỷ trách nhiệm" = tự chịu trách nhiệm.

本 "bản" là chính, còn 副 "phó" là phụ, cấp phó, thứ hai.

本業 "Bản nghiệp" = nghề chính, nghề tay phải
副業 "Phó nghiệp" = nghề phụ, nghề tay trái

Tóm lại trong tiếng Việt ta sẽ nói "nghề giáo là nghề chính, nghề chăn heo là nghề tay trái". Vì có nghề tay trái nên chúng ta nói "nghề tay phải của tôi là nghề giáo". Và chúng ta cũng nói "chăn heo là nghề phụ của tôi". Whatsoever! Who cares!

Cách đọc thì 本業 đọc là ほんぎょう thì không ai thắc mắc. Nhưng riêng chữ "phó" 副 phải đọc là ふく FUKU. Ví dụ 副社長(ふくしゃちょう) nghĩa là "phó giám đốc".

Phàm là cấp "phó" thì đều thêm 副  vào đằng trước là được.

Nhân nói về chữ 本 "bản"

Nhiều nghĩa phết!
本能 bản năng = chức năng gốc
本格 bản cách = chính hiệu, nguyên bản, nguyên gốc => 日本本格の味
ビール一本 beer nhất bản ("một li bia") = kiểu như "em ơi bia" của người Nhật (câu "Em ơi! Bia" (エムオイ!ビア! Emu oi! Bia!) là câu mà người Nhật sử dụng thành thạo nhất và là câu mà nhiều người Nhật biết nhất trong tiếng Việt, bên cạnh các từ như "xe ôm" và "bia ôm".)

本 "hon" là để đếm vật dài. 一本の傘 một cây dù

本 = sách. Sách cũng gọi là "hon", chứ không dùng từ 冊 (sách), vì 冊 (satsu, sách) lại dùng để đếm quyển, đếm cuốn.

本屋 hon'ya (bản ốc) thì là hiệu sách nhưng 本店 honten (bản điếm) lại không phải là "tiệm sách, cửa hàng sách" nữa mà lại là "trụ sở chính (headquarter)". Damn phết!

Nhưng 書店(しょてん、thư điếm) thì lại là cửa hàng sách!

本 cũng đọc là "bổn" ví dụ "bổn tọa" (tôi), "bổn nhân" (tôi), "bổn quan" (quan này, tức là tôi - người đang làm quan và đang nói chuyện với bọn thảo dân các người.)

À, phải nói thêm về chữ 本人 honnin (bản nhân) trong tiếng Nhật. "Bản nhân" thì không phải là "tôi" mà là bản thân người đó, bản thân người nào đó.

夢が叶うかどうかは本人の意思次第だ。
Ước mơ có thành hiện thực hay không hoàn toàn là do ý chí của người đó.

Tầm quan trọng của "bản nghiệp" và "phó nghiệp" trong cuộc sống

"Bản nghiệp" là món ăn chính, "phó nghiệp" là món ăn phụ. Bản nghiệp để kiếm tiền sinh sống, phó nghiệp là để cải thiện hoặc làm vì niềm vui. Đôi khi phó nghiệp lại giúp bạn làm nên đại nghiệp, và bạn bỏ bản nghiệp thì phó nghiệp lại thành bản nghiệp. Vì bản nghiệp cũ bạn đã có kinh nghiệm và kỹ năng bỏ thì tiếc nên bạn lại làm cho vui, thành ra nó lại là phó nghiệp.

Ví dụ bản nghiệp là nghề giáo, phó nghiệp là chăn heo. Bỏ nghề giáo để đi chăn heo thì chăn heo thành bản nghiệp.

Nhân tiện thì tôi không có "bản nghiệp" mà lại có rất nhiều "phó nghiệp". Lưu ý là không phải phó nghiệp là bạn làm không chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp không liên quan tới "bản" hay "phó", việc gì tôi làm cũng rất chuyên nghiệp, kể cả ăn chơi sa đọa. Việc gì cũng phải làm thật bài bản, theo đúng trình tự, theo đúng lễ nghĩa chứ nhỉ?

Quan điểm của tôi về "nghiệp" là làm thật nhiều phó nghiệp một cách chuyên nghiệp. Như thế an toàn hơn và thực hiện được lý tưởng "tôi làm việc tôi thích, tôi thích việc tôi làm".
Takahashi

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

"Bán thân bất toại" 半身不遂 hay 半身不随 "bán thân bất tùy"?

"Bán thân bất toại" nghĩa là gì?

Đây là chứng "liệt nửa người" = 片麻痺(へんまひ、かたまひ、hemiplegia). Liệt nửa người là liệt nửa người trái hay liệt người người phải, chứ không phải liệt nửa trên hay liệt nửa dưới, cũng không phải liệt mặt trước hay liệt mặt sau. Có lẽ do cấu tạo cơ thể là não trái điều khiển nửa bên phải, não phải điều khiển nữa bên trái nhỉ?

Nếu bạn muốn kích thích bán cầu não phải thì hãy dùng tay trái nhiều vào. Mà bán cầu não phải là bán cầu não dùng để sáng tạo, nên bạn nên sử dụng tay trái thì tốt hơn.

Cũng không thể liệt nửa dưới, vì thế thì thường nói là "bại liệt". Cũng không thể liệt nửa trên, vì nửa trên vì nếu đã liệt nửa trên thì chắc không nói là "bán thân bất toại" mà sẽ nói là "toàn thân bất toại" luôn phỏng ạ? Nói cách khác là "đời sống thực vật".

Vì sao lại là "Bán thân bất toại" 半身不遂? Chữ "bất toại" là không còn hoạt động, cử động theo ý chí nữa, không hoành thành được động tác, chữ "toại" ở đây là hoàn thành, ví dụ như toại nguyện.

Ví dụ "giết người không thành" là 殺人未遂 satsujin misui, sất nhân bất toại.

Nhưng "bán thân bất toại" là trong tiếng Việt hay tiếng China thôi. Còn trong tiếng Nhật thì lại là:

半身不随 "bán thân bất tùy" => tiếng Nhật

Nửa người không còn đi theo (tùy) ý muốn của bạn nữa. Chữ "tùy" là "tùy thuộc", "tùy theo", "tùy tùng" nghĩa là đi theo.

Trong tiếng Nhật cũng dùng chữ TÙY:
随筆=ずいひつ TÙY BÚT = đoạn văn viết theo hứng, không phải theo bố cục chặt chẽ, hay để nghị luận vấn đề rõ ràng

随分=ずいぶん TÙY PHẦN = rất, nhiều => 随分暖かくなったね。

Chữ TOẠI 遂 và chữ TÙY 随 "tình cờ" cũng có trong ca từ Tây Du Ký.
人间事常难遂人愿,且看明月又有几回圆。
nhân gian sự thường nan toại nhân nguyện, thả khán minh nguyệt hựu hữu kỷ hồi viên.
Việc nhân gian thường khó mà chiều theo ý con người,
Thoáng chốc đã thấy trăng sáng lại mấy lần tròn.
Tóm lại thì trong tiếng Nhật "bán thân bất toại" thì sẽ là 半身不随 "bán thân bất tùy" đọc là はんしんふずい. Ý nghĩa là "liệt nửa người".

Giải thích như trên bạn có toại nguyện hay không thì tùy.
Takahashi

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017

Cách gọi bậc quân vương vua chúa (tham khảo)

Có bạn nào thắc mắc cách gọi quân vương vua chúa trong tiếng Anh và tiếng Nhật?

My lord = đại vương, 大王
Your grace = điện hạ, 殿下
Your majesty = thánh thượng, 聖上
Your highness = bệ hạ, 陛下

Nếu không gọi quân vương vua chúa mà gọi tôn kính thì là 閣下 (các hạ, kakka), tự xưng thì có thể là 小生 (tiểu sinh, shousei).

Nếu gọi "quý ngài", "quý bà" thì dùng ~殿 (dono, chữ "điện" trong 宮殿 cung điện, 殿下 điện hạ).

Vua chúa khôn ngoan gọi là 名君 MEIKUN (minh quân), vua chúa ngu dốt gọi là 暗君 ANKUN (ám quân).

Ngoài ra còn có 暴君 BOUKUN (bạo quân). Bạo quân là vua chúa bạo ngược, làm dân chúng khổ sở.

Người đứng đầu triều đại phong kiến cha truyền con nối gọi chung là 君主 KUNSHU (quân chủ) ví dụ chế độ quân chủ là 君主制 KUNSHUSEI (quân chủ chế).

Nhân tiện, "cha truyền con nối" gọi là 世襲 SESHUU (thế tập). Cần phân biệt "thế tập" và "thế tục" 世俗。

"Sổ tay tư duy từ vựng"

Tại lớp Cú Mèo Saromalang khi học tiếng Nhật quy định là bạn phải có SỔ TAY TƯ DUY từ vựng. Chúng ta sẽ học theo nhóm từ, học các từ liên quan thì sẽ vui hơn, mà "vui là chính, học là phụ" mới có thể duy trì lâu dài và bất chiến tự nhiên thành được đúng không nhỉ?

Ngoài việc học ngữ pháp và dịch cho đúng thì học từ vựng là vui nhất khi học ngoại ngữ nói chung và tiếng Nhật nói riêng. Và để học được phải có SỔ TAY TƯ DUY TỪ VỰNG. Đây là mục yêu cầu bắt buộc khi học tại lớp Cú Mèo từ nay trở đi. Sổ phải trắng, đẹp, dễ viết và có phẩm cách của sổ tay tư duy từ vựng.

Huấn luyện viên sẽ kiểm tra sổ tay của các bạn xem có đủ tiêu chuẩn chưa trước khi bắt đầu lớp học. Nếu không hợp yêu cầu có thể sẽ yêu cầu thay bằng sổ khác.
Takahashi

Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

不思議 "bất tư nghị" 不可思議 "bất khả tư nghị" và 不可解 "bất khả giải"

Mỗi ngày học vài từ tiếng Nhật thú vị cũng là cách tốt để giữ động lực học tiếng Nhật.

ĐỘNG LỰC = MOTIVATION モチベーション

Năng lực, IQ, bullshit không quan trọng bằng động lực. Ước mơ chỉ thành hiện thực nếu bạn có động lực. Học từ vựng nên là một trong các động lực để học tiếng Nhật.

不思議 "bất tư nghị" FUSHIGI

"Tư" là suy nghĩ, "Nghị" là nghị luận, suy xét. Khi nói về thứ gì "bất tư nghị" thì nghĩa là nó "kỳ lạ".

不思議な出来事
成功も不思議でない

Lưu ý là nó khác với 変な hen-na vì hen-na không phải là "kỳ lạ" mà là "kỳ quái, kỳ quặc".

不可思議 "bất khả tư nghị"

Thứ gì mà bạn "không thể lý giải nổi", vì "bất khả" nghĩa là không thể làm được.

不可解な言動

Ý nghĩa: 名・形動]理解しようとしても理解できないこと。また、そのさま。

不可解 "bất khả giải"

Nghĩa là "không thể hiểu được". Chữ 解 GIẢI là 解る wakaru tức là hiểu, hay hiểu được.

Ví dụ: 人生は不可解だ。 Cuộc đời không thể hiểu được. ↔ 不条理 Bất điều lý

人生は不可解なり

Bài tập áp dụng:
Câu 1: Tiếng Việt
Giải thích "kỳ lạ" có nghĩa là gì trong tiếng Việt.

Câu 2: Dịch câu sau ra tiếng Nhật.
Cuộc đời kỳ lạ tới mức có những hiện tượng không thể lý giải nổi nên tôi xin kết luận rằng bản chất của cuộc đời là không thể hiểu được. ^^

Chúc dịch vui!
Takahashi

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

Sự "phi lý" trong cuộc đời: 不条理 "bất điều lý" và 理不尽 "lý bất tận"

Các bạn học tiếng Nhật thì sẽ gặp hai từ này:

不条理 "bất điều lý" ふじょうり
理不尽 "lý bất tận" りふじん

Chúng đều có nghĩa là "phi lý", nhưng hai sắc thái lại khác nhau, do đó mà cách dùng khác nhau:

Bất điều lý

1 筋道が通らないこと。道理に合わないこと。また、そのさま。「不条理な話」
2 実存主義の用語。人生に何の意義も見いだせない人間存在の絶望的状況。カミュの不条理の哲学によって知られる。
《名・ダナ》事柄の筋道が立たないこと。 「人生の不条理 」

Ví dụ 人生の不条理 sự phi lý trong cuộc đời ("bất điều lý" của "nhân sinh")
不条理な話 = câu chuyện phi lý

"Bất điều lý" là nói về tính chất phi lý một cách khách quan của sự vật sự việc.

Lý bất tận

[名・形動]道理をつくさないこと。道理に合わないこと。また、そのさま。「理不尽な要求」「理不尽な扱い」
物事の筋道が通らないこと。道理にあわないこと。また、そのさま。無理無体。 「 -な要求」 「 -な仕打ち」
"Lý bất tận" nói về sự phi lý trong thái độ, cách thức đối xử, yêu cầu, ...
Có thể dịch ra là "quá vô lý, quá mức phi lý".

理不尽な要求 = yêu cầu phi lý, yêu cầu vô lý

Bài tập: Hãy phân tích ngữ nghĩa của 不条理 "bất điều lý" và 理不尽 "lý bất tận".

Sự phi lý trong cuộc đời = 人生の不条理

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2017

王道 "VƯƠNG ĐẠO" trong cuộc đời

王道 VƯƠNG ĐẠO nghĩa là gì?

Nghĩa đen của 王道 "vương đạo" là "con đường hoàng gia (royal road)", ban đầu cứ ngỡ đó là "con đường đúng đắn" vì theo quan điểm nho giáo thì vua luôn đúng, nếu vua sai thì bạn ra pháp trường. ^^

Nhưng hóa ra không phải. "Vương đạo" có hai nghĩa căn bản:

おうどう【王道】

尭(ぎよう)・舜(しゆん)ら先王の行なった、仁徳に基づく政治。儒家の理想とする政治思想で、孟子によって大成された。 ↔ 覇道はどう

〔royal road の訳語〕 安易な方法。楽な道。近道。 「学問に-なし」

Nghĩa thứ nhất là tư tưởng nho giáo về nền chính trị dựa trên nhân đức mà các vua trước như Nghiêu, Thuấn đã thực hiện. Trong nghĩa này, từ trái nghĩa với "vương đạo" là "bá đạo" 覇道, tức là nền chính trị cai trị bằng quyền lực và sự cưỡng chế.

Nhưng nghĩa thứ hai là "phương pháp dễ dàng, con đường dễ dàng, con đường tắt".

Nghĩa này không phải là vốn có trong tiếng Nhật mà là dịch từ "royal road" trong tiếng Anh ra. "Royal road" được hiểu là con đường dễ dàng, vì con đường của hoàng gia mà còn không dễ thì ai dễ vào đây nữa?

Trong cuộc sống thường ngày chúng ta dùng "vương đạo" theo nghĩa "con đường dễ dàng, cách dễ dàng" (kiểu "bất chiến tự nhiên thành").

Ví dụ: 学問に王道なし = Không có con đường dễ dàng trong học vấn

Hoặc tôi chế ra câu này:
「資本主義に反対します。社会主義に反対します。」と何にでも反対する人がいるけれど、それはただ被害者意識にすぎないと思う。どんな社会でも一生懸命仕事をしてその労働で報酬を得てそのお金で時間を買ったり幸せを買ったりするのは王道じゃなかろうか。
Có những người cái gì cũng phản đối như "Tôi phản đối chủ nghĩa tư bản. Tôi phản đối chủ nghĩa xã hội." nhưng tôi nghĩ đó chẳng qua chỉ là ý thức (bản thân là) nạn nhân. Cho dù xã hội như thế nào thì chẳng phải làm việc hết sức để nhận tiền công dựa trên lao động đó rồi mua thời gian, mua hạnh phúc bằng số tiền đó là "vương đạo" (con đường dễ dàng) hay sao?
Như thế, "vương đạo" thật sự trong cuộc đời là học tập và lao động, không phải đấu tranh chính trị.

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017

Cách dịch từ vựng và ngữ pháp: Không phải là SƯU CAO THUẾ NẶNG thì là gì?

"Không phải là sưu cao thuế nặng thì là gì?"

Dịch câu trên ra tiếng Nhật tại lớp dịch thuật Cú Mèo Saromalang.

"Sưu cao thuế nặng" nghĩa là gì?

Tiền sưu: Thuế thân, còn gọi là thuế đinh, thuế đầu người, hay sưu là một trong thứ thuế của chế độ phong kiến và quân chủ. Đây là sắc thuế tiêu biểu trong các sắc thuế khoán. Thuế thân căn cứ vào cư dân địa phương, mỗi dân đinh đều phải nộp.

Thuế thì có nhiều loại thuế đánh trên mỗi mặt hàng chắc ai cũng quen rồi.

Ngày nay không còn thuế thân nữa mà sẽ thành thuế tiêu thụ (một số nước gọi là thuế VAT, tức thuế giá trị gia tăng), thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế môn bài (thuế đăng ký kinh doanh), ngoài ra còn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm sức khỏe nữa. Mỗi người có một cơ số thuế phải đóng.

Người ta có câu: Có hai thứ con người không thể chạy trốn, đó là thuế và cái chết.

Sắp tới lại sắp tăng thuế đấy. Thế nên mới có câu "sưu cao thuế nặng", hiện không còn tiền sưu tức là thuế thân nữa, nhưng đố bạn nào sinh ra mà không phải chịu thuế thân đấy? Tính sơ sơ bổ đầu người thì trẻ em sinh ra ở nước nghèo đã chịu sẵn một số nợ quốc gia nhất định - bằng ngoại tệ - nên sinh ra đã là một con nợ.

Chưa kể ở xứ nho giáo thì con cái là con nợ của cha mẹ nữa, trả đời nào cho trọn chữ hiếu? Tôi gọi đây là thuế nho giáo.

Gọi chung thành một quán ngữ là "sưu cao thuế nặng". Tất nhiên, "sưu cao thuế nặng" có lẽ là định mệnh của các bạn, nên hãy vui vẻ chịu thôi.

"Sưu cao thuế nặng" tiếng Anh gọi là EXACTION:
exaction /ɪɡ.ˈzæk.ʃən/
1. Sự tống (tiền... ); số tiền tống, số tiền đòi hỏi.
2. Sự đòi hỏi không hợp pháp, sự đòi hỏi quá quắt, sự sách nhiễu; sự bóp nặn (tiền của... ).
3. Sưu cao thuế nặng.

Vốn thì EXACTION là sự tống tiền, sự bóp nặn, "sưu cao thuế nặng" là sự bóp nặn, bòn rút từ nhân dân.

Tiếng Nhật gọi là:
exactionとは
強要、強制取り立て、厳しい要求、強制取り立て金、重税

重税 trọng thuế
強制取り立て金 tiền trưng thu (bóp nặn) một cách cưỡng chế

Trong tiếng Nhật sẽ dùng từ 重税 (じゅうぜい, trọng thuế), đôi khi còn gọi là 苛税 (kazei, hà thuế).

"Đó không phải sưu cao thuế nặng thì là gì?"

Đây là một câu hỏi tu từ. Câu này là câu khẳng định đó chính là sưu cao thuế nặng. Nó tượng tự câu hỏi tu từ sau:

"Đó không phải là sưu cao thuế nặng hay sao?"
= それは重税ではないでしょうか
or それは重税ではないだろうか

Trong tiếng Nhật câu hỏi tu từ dạng này sẽ dùng ではないでしょうか (lịch sự) hay ではないだろうか (không lịch sự).

Còn câu "Đó không phải sưu cao thuế nặng thì là gì?" thì đây thường được coi là ngữ pháp JLPT N1. Chúng ta sẽ nói như sau:

"Đó không phải là sưu cao thuế nặng thì là gì?"
= それは重税でなければ何だろう。

Chúng ta sử dụng でなければ何だろう。 (denakereba nandarou)

"Đó chẳng phải tình yêu đích thực thì là gì?"
それは真の愛じゃなければ何だろう。
Sorewa shin no ai janakereba nandarou.

Đôi khi chúng ta cũng nói tắt hay nói dạng phương ngữ:

それは真の愛じゃなきゃじゃろう。
⇒なきゃ=なければ、じゃろう=だろう

Tất nhiên bạn cũng có thể nói dạng lịch sự: 彼は真の友人でければなんでしょう。

Nhân tiện, học ngôn ngữ không phải là cách rèn nhân cách tốt nhất thì là gì?
Luôn thắc mắc về điều đó, chẳng bao giờ có câu trả lời ^^ アハハハ。
Takahashi

Thứ Hai, 4 tháng 9, 2017

りん議 RINGI dịch ra tiếng Việt là gì?

Hôm trước vừa học LƯU NGHI 流儀(りゅうぎ) thì hôm nay học りん議(りんぎ)。

りん議 là cách viết của 稟議, vì chữ 稟 không có trong bảng thường dụng hán tự nên viết bằng hiragana, tuy nhiên, vốn 稟議 lại đọc là ひんぎ nhưng theo thói quen thì đọc thành りんぎ。

稟議 lẽ ra đọc là ひんぎ HINGI bởi vì chữ này là "bẩm nghị".

"Bẩm nghị" là một nét văn hóa công ty Nhật Bản

Bạn nào làm việc ở công ty Nhật chắc biết văn hóa RINGI, hay đúng ra phải là HINGI 稟議 [BẨM NGHỊ].

RINGI tức là thế này: Bạn có một đề đạt cần được mọi người trong công ty thông qua mà tổ chức họp hành thì mất thời gian và cũng khó mà tập hợp được mọi người lấy ý kiến, nên bạn gửi đề đạt tới tất cả phòng ban để chờ họ đồng ý duyệt và trả lời riêng rẽ. Khi đã được tất cả đồng ý thì bạn tiến hành làm.

Thay vì họp và biểu quyết lấy đa số, thì bạn gửi bản kiến nghị và nhận sự xác nhận đồng ý. Đây là văn hóa đặc thù ở công ty Nhật Bản. Nghe thì có vẻ hợp lý nhưng thật ra nó còn ý nghĩa văn hóa sâu xa đằng sau đấy, mà nếu bạn không hiểu thì về cơ bản là bạn không hiểu LƯU NGHI 流儀 của công ty Nhật Bản, khó mà thăng tiến được.

Thật ra, RINGI không hẳn là lấy sự đồng ý! Nếu thật sự cần tán thành hay biểu quyết thì họ đã họp từ lâu rồi. Người Nhật ai chẳng thích họp. Bởi vì những đề đạt mà cần RINGI thật ra lại chẳng liên quan gì các phòng ban khác mấy. Đúng ra việc bạn bạn làm, hơi đâu mà xin sự đồng ý của các phòng ban khác, mà thật ra, họ cũng đồng ý thôi.

Sở dĩ bạn RINGI là vì một số lý do:
- Thể hiện sự đoàn kết và tôn trọng, yếu tố then chốt trong công ty Nhật Bản
- Nói cho mọi người biết rõ là bạn đang làm gì (có thể họ góp ý kiến)
- Mọi người trong công ty Nhật nên biết người khác đang làm gì để giúp đỡ, đóng góp ý kiến, kinh nghiệm bản thân
- Mọi người biết kinh nghiệm, việc làm của nhau để khi cần có thể hỏi han kinh nghiệm ...

Tức là RINGI là để bộ máy hoạt động trơn tru, mọi người có thể tận dụng, lợi dụng kinh nghiệm của nhau, rút ngắn thời gian và tăng thành quả. So với công ty Âu Mỹ thì công ty Nhật có vẻ là một khối thống nhất hơn, còn công ty Âu Mỹ thường là các cá nhân làm việc độc lập, riêng lẻ, theo một VISION chung. Công ty Nhật Bản coi trọng chủ nghĩa tập thể và sự hài hòa trong công ty, còn công ty Âu Mỹ coi trọng chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa thành quả là trên hết.

Hi vọng bạn đã hiểu thế nào là RINGI.

Vấn đề là, vì sao lại là "BẨM NGHỊ"?

稟議 BẨM NGHỊ.

稟 BẨM ở đây là thưa bẩm, bẩm tấu, bẩm lên. Ví dụ:

Quan: Vì sao bọn dân đen khiếu kiện lắm thế?
Lính: Dạ thưa bẩm, vì chúng nhàn quá ạ.
Quan: Sao chúng nhàn thế?
Lính: Dạ bẩm, vợ quan lấy hết đất của chúng xây lữ quán cả rồi ạ, giờ chúng chỉ bán trà đá qua ngày thôi ạ.

"Bẩm" có nghĩa là "trình bày" nhưng là người dưới trình bày lên người tôn kính.

"Bẩm tấu hoàng thượng, đất nước ta chưa bao giờ thái bình thịnh trị như bây giờ."
"Dạ bẩm quý anh quý chị, xin phép cho em được có đôi nhời."

Còn 議 NGHỊ có nghĩa là nghị luận, bản bạc.

Do đó BẨM NGHỊ là bạn trình bày lên (một cách cung kính) để mọi người nghị bàn và cho ý kiến. Thường là đồng ý chứ nhỉ?

Muốn thăng tiến ở công ty Nhật à? Làm gì hãy la toáng cả lên và báo cáo thật hay vào. Bằng cách "bẩm nghị" mỗi ngày.
Takahashi

Chủ Nhật, 3 tháng 9, 2017

流儀 "LƯU NGHI" nghĩa là gì?

Chúng ta tra từ điển:

デジタル大辞泉の解説
りゅう‐ぎ〔リウ‐〕【流儀】
1 物事のやり方。「結婚式は田舎の流儀でやる」
2 技術・芸能などで、その人や流派に伝わっている手法・様式。「流儀を守り伝える」

大辞林 第三版の解説
りゅうぎ【流儀】

物事の仕方。やり方。 「君の-にはついていけない」 「彼独特の-」

芸術・武術などの、その流派や家に昔から伝えられている仕方。流派。

流儀 "lưu nghi" nôm na là 仕方 hay やり方, tức là "cách làm". Nhưng vì sao không dùng yarikata cho nhanh?

Nhìn kỹ thì chữ 流 LƯU có nghĩa là dòng chảy (流れ nagare) còn 儀 NGHI là nghi thức (儀式), lễ nghi (礼儀). Nôm na ra thì "lưu nghi" là nghi thức thực hiện theo đúng dòng chảy, trình tự. Tức là "cách thức thực hiện, cách thức tiến hành".

Do đó, tại Saromalang tôi dịch là "làm theo cách của ....".

流儀 "lưu nghi" = làm theo cách của (ai)

Vốn ban đầu thì "lưu nghi" là cách thức của một tập thể về một môn nghệ thuật nào đó:
流儀(りゅうぎ)
日本の芸能や武術などにおいて、ひとつの分野について他との技術、手法、心構え、表現の目的、表現にあたっての解釈などの差異を理由として形成された集団。またはその集団が奉ずる芸道に対する考えかた、取組みかたそのもの。流派とほぼ同義。本項で説明する。
1から転じて、あるものに対するその人なりのやりかたを比喩的に言う。

Câu ví dụ:
結婚式は田舎の流儀でやる Lễ kết hôn thì làm theo cách của miền quê.
彼独特の流儀 cách làm độc đáo của riêng anh ấy

Thế nên là nếu bạn học tiếng Nhật mà mãi không giỏi thì xem lại LƯU NGHI 流儀 học tiếng của mình đi nhé!
Takahashi

Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017

Ví dụ lỗi sai SẮC THÁI tiếng Anh: Phân biệt "sorry" và "apologize"


Câu trên khá phổ biến ở VN tuy nhiên về cơ bản lại không đúng. Người VN học tiếng Anh rất nhiều, nhưng có vẻ như khá nông cạn. Người nước ngoài khi họ nhìn vào họ sẽ không tôn trọng người VN. Có lẽ cũng có nhiều người học tiếng Anh bài bản, nhưng nhìn chung các bạn không được tôn trọng vì các bạn KHÔNG BIẾT BẢO NHAU điều hay lẽ phải.

Nó cũng như việc có một bộ phận người VN ăn cắp vặt, nên ở siêu thị ngoại mọi người VN đều được coi là kẻ ăn cắp tiềm năng. Thực sự thì đa số người VN không ăn cắp vặt, nhưng lại không bảo được nhau. Vì biển báo trên nhan nhản ở mọi nơi, nên khó mà người nước ngoài nghĩ người VN học hành bài bản được.

Vì câu trên đúng ra phải là "We apologize for this inconvenience".

Chứ không phải là "We are sorry for this inconvenience".

Khi học nhiều người nghĩ "sorry" hay "apology" đều là "xin lỗi" nhưng thật ra không phải như vậy. Sắc thái của hai từ này khác nhau.

Sorry: lấy làm tiếc về một việc gì đó.

Ví dụ: I'm sorry for your loss. = Tôi lấy làm tiếc về mất mát của bạn.

Khi nói chuyện với bạn bè bạn hỏi thăm về bố mẹ họ và biết là bố/mẹ họ mất bạn cũng nói "I'm sorry". Câu này không hề là "Tôi xin lỗi" vì bạn đâu có làm gì sai? Câu này nghĩa là "Tôi lấy làm tiếc".

Apology: Xin thứ lỗi, xin tha lỗi.

Đây mới là "xin thứ lỗi" khi bạn nghĩ là bạn làm sai. Ví dụ: I apologize you for my mistake.

Trong câu "Chúng tôi xin lỗi về sự bất tiện này" thì phải dùng apologize. Bởi lẽ bạn sẽ còn tiếp tục sự bất tiện này kia mà?

Còn "be sorry" (lấy làm tiếc) thường là dùng với sự việc đã xảy ra, mà bạn lấy làm tiếc về việc đó.

Ngoài ra, trong khẩu hiệu trên (cũng là do học từ người Nhật thì phải) thì câu tiếng Việt còn tử tế, chứ câu tiếng Anh thì lại suồng sã, bỗ bã kiểu bạn bè.

Vì đúng ra phải nói "We are sorry for this inconvenience".

Nhân tiện, trong tiếng Nhật thì:
to apologize = 謝る(あやまる)
to be sorry = 申し訳ない(もうしわけない)、申し訳なく思う sometimes 悪いのですが

Câu kết: Dù học ngôn ngữ nào thì cũng phải học SẮC THÁI cẩn thận, nếu không rất dễ bị đánh giá thấp. Nghĩa là sẽ không được tôn trọng. Vì sao cùng học tiếng Nhật mà có người được tôn trọng và đối đãi tử tế, có người lại không? Who knows! ^^
Takahashi

"Bồi bút":
Mà "apology" thì 90% người Việt phát âm sai. Người VN học ngôn ngữ nào phát âm cũng rất tệ hại, họ thường phát âm theo cách của bản thân, mỗi người lại phát âm khác nhau. Thật ra thì họ thường hay "phát minh" ra cách phát âm chứ lười học bài bản và thường không học một cách logic.

Từ "apologize" thì trọng âm ở "po" và trọng âm phụ ở "gize". Cách phát âm thế này:
Tiếng Anh /əˈpɒlədʒaɪz/
Tiếng Mỹ /əˈpɑːlədʒaɪz/ 

Tóm lại thì phát âm giống như là "ơ PO- lơ giaiz" chứ không phải là "a pô lô giaiz" vì đây là tiếng Việt mà ^^

>>Nghe phát âm tại Oxford Learner Dictionaries

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2017

先入観 "Tiên nhập quan"

Lời mở đầu

Ngôn ngữ là một môn khoa học, hơn nữa, là một môn khoa học tổng hợp. Không ngạc nhiên khi bạn được coi là thông minh khi giỏi ngôn ngữ. Những người thông minh (về ngôn ngữ) đều diễn đạt tốt và vốn từ lớn. Các công ty thích tuyển người giỏi ngoại ngữ! Vì những người có khả năng học tập thì khi làm việc cũng sẽ học tập để làm được việc.

Một công ty tốt sẽ tuyển người theo khả năng học tập. Một công ty kém sẽ tuyển người theo khả năng làm việc tức thời. Làm sao để biết người nào có khả năng học tập? Bạn PHỎNG VẤN họ. Một người có khả năng ngôn ngữ tốt, kỹ năng giao tiếp (communication skill) tốt thì nhiều khả năng sẽ trở thành người làm được việc (できる人 dekiru hito) trong tương lai. Ở Nhật dù đi xin việc làm thêm, xin việc làm, hay xin học bổng, vv đều có vòng phỏng vấn cả. Trước đó bạn thường phải thi cả môn tiểu luận (essay) nữa. Nhìn vào đó là họ đánh giá được 80% về bạn rồi.

Đặc biệt, thi đại học Nhật Bản cũng chắc chắn có vòng phỏng vấn. Bạn nào đăng ký du học tại Saromalang thì thường được chỉ cho nguyên tắc phỏng vấn này để có thể phỏng vấn thi đại học, phỏng vấn học bổng khi du học.

Tất cả chỉ là mindset. Nhân tiện, tôi chia ra 2 dạng IQ căn bản:
- IQ về toán học
- IQ về ngôn ngữ

Ngày trước tôi suýt học chuyên toán, điểm thi chắc gần tuyệt đối. Vì thế nếu không dạy tiếng Nhật thì tôi dạy toán hay vật lý online chắc cũng ổn thôi. Hay không nhỉ? Ai mà biết được. Sắp tới tôi cũng tổ chức lớp luyện thi đại học Nhật Bản (kỳ thi EJU) cho các bạn muốn đậu Tô-đai hoặc đại học Nhật Bản ở Sài Gòn.

先入観 "Tiên nhập quan" nghĩa là gì? 

"Tiên nhập quan" không phải là "vô quan tài trước" mặc dù bạn hiểu thế cũng được. Nếu trong đầu có quá nhiều "tiên nhập quan" thì có lẽ là bạn sẽ gặp rắc rối, nhiều khả năng vô quan tài về mặt tinh thần. "Tiên nhập quan" cũng không có nghĩa là "tiên nhập vô quan tài".

入 NHẬP = đi vào, có ở trong. Chữ này chắc không ai thắc mắc.

Chữ 先 TIÊN ở đây là "trước"

先 TIÊN (trước, phía trước) ≠ 仙 TIÊN (tiên nhân, tiên nữ)

Chữ 観 QUAN là quan điểm, quan sát:

観 QUAN ≠ 棺 QUAN
quan điểm, quan sát ≠ quan tài

Hai chữ QUAN khác hẳn nhau nhé. Trong tiếng Nhật cũng có chữ 入棺 NHẬP QUAN, tức là vô quan tài hay cho vô quan tài.

先入観 "Tiên nhập quan" thì "tiên nhập" tức là có sẵn, có sẵn từ trước, còn "quan" là quan điểm, ý kiến.

先入観 "Tiên nhập quan" = quan điểm, cách nhìn đã có sẵn từ trước

Tiếng Nhật đọc là せんにゅうかん sennyuukan.

Vậy dịch 先入観 "Tiên nhập quan" ra tiếng Nhật thế nào?

Tiếng Việt thì cúng ta gọi 先入観 "Tiên nhập quan" là "định kiến" (定見).

"Định kiến" (定見) là gì?
Ý kiến, quan điểm cố định, có sẵn từ trước.

Vấn đề là, cách dùng "định kiến" như thế nào? Nói cách khác, SẮC THÁI của từ "định kiến"?

Việc hiểu sắc thái mới giúp bạn thực sự sử dụng được từ vựng. "Định kiến" thì sắc thái nghĩa là bạn mang sẵn ý nghĩ xấu hay tiêu cực về một đối tượng nào đó, thường là "vơ đũa cả nắm".

Chúng ta không dùng "định kiến" đối với việc tốt, ví dụ chúng ta không nói:

× "Tôi có định kiến người Nhật rất lịch sự."
× "Tôi có định kiến người Việt rất thân thiện."

TRỪ KHI, bạn cố tình gây cười cho mọi người, tức là sử dụng ngôn ngữ một cách kỳ lạ nhưng khéo léo, để tạo ra hiệu ứng nào đó. Tôi làm chuyện đấy suốt trên trang web này mà! ^^ Tức là, cũng là một từ nhưng bạn có thể sử dụng theo cách "sai sai" với một mục đích cao hơn, thường chỉ là gây cười hoặc gây tò mò. Nhưng bạn sẽ được đánh giá là người có khiếu hài hước, thật sự cuộc sống sẽ dễ thở hơn rất nhiều.

Nhân tiện, định kiến tiếng Anh là PREJUDICE.

Pride and prejudice = Kiêu hãnh và định kiến

Tổng kết lại là thế này, khi học tiếng Nhật hay tiếng Việt, chúng ta phải phân tích được ngữ nghĩa gốc của mỗi chữ kanji. Chỉ khi nào bạn hiểu rõ kanji thì bạn mới có thể sử dụng từ vựng một cách logic. Có nhiều người không sử dụng từ vựng một cách logic, nhất quán, vì thế trong cuộc đời và công việc không ai coi trọng họ. Dạo này giới trẻ "bại não" rất thích nghĩ ra ngôn ngữ mới kiểu như "giải ngố" chẳng hạn. Vì họ đã quên nghĩa của từ ban đầu rồi, hay đúng ra, họ không còn diễn đạt được nữa nếu không "sáng tác từ mới". Cuộc đời sẽ cô đơn dài dài đấy. Tôi không khuyến khích ngôn ngữ này, hãy nói ngôn ngữ "cổ điển" cho thành thạo và sử dụng ngôn từ một cách logic.

Và thật ra thì tiếng Anh cũng cực kỳ logic. Muốn học Anh ngữ tốt, cũng phải biết một chút về tiếng latinh. Thật ra học tiếng Nga thì vẫn cần học tiếng latinh.

Trong chữ PREJUDICE thì có hai phần là PRE và JUDICE.

Tiền tố Pre- là trước (prewar = trước chiến tranh), ngược với nó là tiền tố Post- là sau (postwar = sau chiến tranh). Còn Judice là sự phán xét (to judge).

Do đó Prejudice = phán xét từ trước, phán xét sẵn. Do đó, nó là "định kiến" (ý kiến, quan điểm đã cố định từ trước).

Học ngoại ngữ thường giúp bạn có khả năng so sánh, từ đó nâng cao ngôn ngữ mẹ đẻ lên. Việc học ngôn ngữ theo tôi nên học cách TƯ DUY VỀ TỪ VỰNG, để bạn có thể tự học các từ vựng. Chứ nếu chỉ học kiểu ôm đồm, nông cạn, chỉ dùng KÝ ỨC NGẮN HẠN thì bạn sẽ sớm quên và vốn từ không tăng được mấy, sẽ giảm dần theo thời gian. Còn nếu học theo cách đúng, một cách logic, thì bạn sẽ nhớ lâu dài.

Đừng có "tiên nhập quan" rằng cứ chăm chỉ học hàng tiếng mỗi ngày, học ôm đồm ngữ pháp, từ vựng với chí khí ngút trời là sẽ giỏi tiếng Nhật. Làm thế nhiều khả năng sẽ sớm 入棺 "nhập quan" trong việc học tiếng Nhật. Nói nôm na là "anh đã quá cố do đã cố quá" ^^. Vì thế, tôi ủng hộ việc học tư duy để học một cách nhẹ nhàng và ghi nhớ lâu dài bằng ký ức dài hạn.

Tôi sẽ áp dụng cả phương pháp này trong ôn luyện EJU để thi Tô-đai cũng như bất kỳ trường đại học nào mà bạn muốn vào học tại Nhật Bản.
Takahashi

Thứ Năm, 31 tháng 8, 2017

"Mai một" 埋没

"Mai một" nghĩa là gì?

Tiếng Việt và tiếng Nhật có nhiều từ giống mà cách dùng, ý nghĩa lại hơi khác nhau. Ví dụ từ "mai một", trong tiếng Nhật cũng có chữ 埋没 [mai một].

Lưu ý chữ Mai 埋 (chôn xuống, mai táng) khác với chữ Mai 梅 (ume, cây mơ, trái mơ) nhé.

埋 Mai ≠ 梅 Mai
Chôn xuống, 埋める umeru / Mơ, cây mơ 梅 ume

Mai 埋 là chôn xuống và Một 没 là mất đi.

"Mai một" trong tiếng Việt có nghĩa là cái gì đó mất dần đi. Ví dụ:
- Tài năng bị mai một dần.
- Nghề truyền thống mỗi ngày lại mai một đi.
- Lòng nhiệt huyết bị mai một theo năm tháng.

Tóm lại là "mất đi".

Trong tiếng Nhật thì 埋没 [mai một] có ý nghĩa là:
1 うずもれて見えなくなること。「地すべりで民家が埋没する」
2 世の人に知られないこと。「野に埋没している逸材」
3 没頭して他を顧みないこと。「研究に埋没する」
(大辞林 Đại Từ Lâm)

"Bị chôn vùi", "mai danh ẩn tích", "chìm trong".

Như vậy có thể thấy mặc dù cùng là từ "mai một" 埋没 nhưng cách dùng và ý nghĩa hơi khác nhau trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Trong tiếng Nhật cũng sử dụng "tài năng bị mai một":

秘めた才能が埋没する

Nhưng về nguồn gốc ngữ nghĩa thì giống nhau như đã nói ở trên. Vì thế, học tiếng Nhật cũng như là ôn lại tiếng Việt thôi. Học ngoại ngữ đôi khi cũng là cách để tránh ngôn ngữ mẹ để bị mai một 埋没 dần đi, bởi lẽ ngôn ngữ mẹ đẻ mà bị mai một thì cuộc đời cũng sẽ mai một theo.
Takahashi

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017

Vì sao "Oshin" lại là "Oshin"? ^^

Oshin vốn tên là Tanimura Shin, gọi "O" là để lịch sự trong tiếng Nhật.

Ví dụ:
箸 hashi đũa ⇒ 御箸 (ngự trứ) or お箸 ohashi

Thường thì "o" dùng cho từ thuần Nhật, còn "go" (cũng là 御 ngự) dùng cho từ "Hán Nhật" (ví dụ ご相談 hay 御相談 ngự tương đàm, gosoudan, ご報告 gohoukoku báo cáo).

Nhưng một số từ gốc Hán đã Nhật hóa gần như hoàn toàn vẫn dùng お:
お電話 odenwa
お時間 ojikan
お返事 ohenji (những sẽ là ご返信 gohenshin = ngự phản tin)

Ở trên là ô-điện thoại, ô-thời gian, ô-phản sự. Thậm chí bác sỹ trong tiếng Nhật là お医者さん ô-y giả-san ^^. Có thể hiểu nôm na là "ông bác sỹ" (bác sỹ nam) hay "o bác sỹ" (bác sỹ nữ).

Tên của おしん là しん còn お thì gọi lịch sự. Nhưng mặc dù viết là しん nhưng có vẻ cha mẹ Oshin cũng đặt tên theo một ý nghĩa nào đó, dưới đây là một vài cách hiểu:
芯 tâm = lõi, cốt lõi
心 tâm = tấm lòng
信 tín = tin tưởng, tin cậy
真 chân = thật
vân vân.

Đối với người Việt thì cũng có thể áp dụng tương tự:
Đông = おどん(丼 tô cơm)
Tây = おたい(鯛 cá điêu hồng)
Nam = おなむ(南無 nam mô)
Bắc = おばく(獏 baku yêu quái ăn giấc mơ / バク heo vòi)

Tên bạn là gì thì thêm お vào cho trang trọng.
Takahashi

"Chứng hậu quần" 症候群 và "hậu thiên tính miễn dịch bất toàn chứng hậu quần" 後天性免疫不全症候群

症候群 [chứng hậu quần, 症候群] có nghĩa là "hội chứng" hay "syndrome". Vậy "chứng hậu quần" nghĩa là gì?

Chứng 症 là chứng bệnh, triệu chứng.
Hậu 候 là chỉ tình trạng, hãy triệu chứng, có trong 気候 khí hậu, 天候 thiên hậu, 侯爵(こうしゃく) hầu tước.
Quần 群 là quần thể 群体, quần chúng 群衆 hay đàn (群れ mure).

"Chứng hậu quần" vì thế là một tập hợp (quần thể) các triệu chứng bệnh tật, chứ không phải một triệu chứng đơn lẻ, hay là bệnh đã xác định cụ thể. Trong tiếng Việt, "hội chứng" (会症) có nghĩa là các triệu chứng xảy ra đồng thời (gặp nhau, hội họp ...).

Nếu bạn nghi ngờ là mình bị "chứng hậu quần" nào đó thì nhớ ngay lập tức phải 相談 "tương đàm" với お医者 "ô-y giả" nhé (tức là "ông y giả" ông bác sỹ, hay là "o y giả" bà bác sỹ). Không coi chứng nó thành 危篤 "nguy đốc" thì phiền đấy.

後天性免疫不全症候群 Hậu thiên tính miễn dịch bất toàn chứng hậu quần

Đây là bênh AIDS (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người). "Miễn dịch bất toàn" thì "bất toàn (不全)" tức là không hoàn toàn, không đầy đủ.

Còn 後天性 "hậu thiên tính" là thế nào? "Tính" ở đây là tính chất, tức là có tính chất "hậu thiên" (ngày sau). 後天 "hậu thiên" là thứ mà bạn có hay mắc sau khi bạn sinh ra.

Ngược lại thì gọi là 先天 "tiên thiên" (ngày trước) tức là thứ gì mà bạn có sẵn trước khi được sinh ra.

後天性免疫不全症候群 Hậu thiên tính miễn dịch bất toàn chứng hậu quần = Hội chứng miễn dịch không đầy đủ mang tính mắc phải sau khi đã sinh ra hay "Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải".

Tôi nghĩ học tiếng Nhật cũng khá vui.

Nếu gặp 困難 khốn nạn trong việc 勉強 miễn cưỡng thì nhớ 相談 tương đàm với 先生 tiên sinh của bạn nhé. Giờ tôi phải mở 冷蔵庫 lãnh tàng khố lấy ít 玉蜀黍 ngọc thục thử để bỏ vào 炊飯器 xúy phạn khí để 煮る chử nó lên. Có lẽ nên thêm ít 塩 diêm thì sẽ ngon hơn nhỉ!
Takahashi

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

Dịch "Anh nhớ em/Em nhớ anh" (I miss you) sang tiếng Nhật

Trong tiếng Anh chúng ta sẽ nói "Anh nhớ em/Em nhớ anh" bằng cách này:

I miss you. (thì hiện tại)
I missed you. (thì quá khứ)

Đôi khi cũng nói I'm missing you (thì hiện tại tiếp diễn) hoặc I will miss you (thì tương lai).

I'm missing you = Anh đang nhớ em / Em đang nhớ anh / Tôi đang nhớ bạn ...
I will miss you = Tôi sẽ nhớ bạn ...

"Nhớ" là thế  nào?

"Nhớ" ở đây không phải là "remember" (ghi nhớ) mà là "nhớ nhung" đúng không nhỉ?
Anh nhớ em! và Nhớ đóng cửa nhé! là hai "nhớ" khác hẳn nhau ^^

Một là "nhớ nhung" (miss) và hai là "ghi nhớ" (remember).

Bản thân chữ "miss" là lỡ (lỡ tàu: miss the train), bỏ lỡ (miss the chance), thất lạc (missing).

"Nhớ nhung" có nghĩa là cảm xúc sầu khổ khi không có mặt ai đó (đối tượng mà bạn nhớ) ở bên cạnh, người mà bạn dành tình cảm nhiều cho họ, yêu quý họ và mong muốn có họ ở bên cạnh. Theo kiểu "nhớ gì như nhớ người yêu" vậy.

Trong tiếng Nhật thì chúng ta nói là:

あなたがいなくて寂しい。
Anata ga inakute sabishii.
Em nhớ anh (anh nhớ em)

Nghĩa đen của câu này là: Không có anh (em) nên em (anh) thấy buồn.
いない = không có (ai, động vật) ⇒ DẠNG NỐI CÂU: いなくて
寂しい sabishii = buồn, cảm thấy cô đơn

Đối với người trẻ hơn thì chúng ta thay あなた bằng 君 kimi chẳng hạn: 君がいなくて寂しい。 (Anh nhớ em. / Chị nhớ em.)

Chúng ta cũng có thể dùng 鈴木さん vì người Nhật cũng hay gọi tên, nhất là khi bạn yêu người hơn tuổi: 鈴木さんがいなくて寂しいです。

そうか??

Tóm lại thì bạn đã hiểu "nhớ" là thế nào chưa? Tôi hi vọng là rồi.

Nhưng vấn đề là thế này:
(1) I miss you = あなたがいなくて寂しいよ。 (hiện tại)
(2) I missed you = あなたがいなくて寂しかったよ。 (quá khứ)

Có vẻ cùng là "Anh nhớ em/Em nhớ anh"?

Hai câu trên nói trong hoàn cảnh khác nhau.
I miss you: Nói khi bạn không ở cạnh người ấy (Em HIỆN ĐANG nhớ anh)
I missed you: Nói khi bạn đã ở cạnh người ấy (Em ĐÃ nhớ anh)

Hoặc "I missed you" đơn giản là kể về một thời điểm quá khứ: Lúc đó em nhớ anh.

Tóm lại thì nếu đang không ở bên người ấy thì là:
(1) I miss you = あなたがいなくて寂しいよ。 (hiện tại)

Nếu đang ở bên người ấy và kể lại cảm xúc nhớ nhung thế nào thì là:
(2) I missed you = あなたがいなくて寂しかったよ。 (quá khứ)

Mỗi chuyện nhớ nhung mà cũng lắm trò phết nhỉ. Mệt phết nhỉ? (めちゃしんどくない?)

Nhân tiện, tình yêu là một ảo mộng cho ta sức mạnh vượt qua bao bão táp trong cuộc đời, giúp ta có thể hi sinh một cách cao cả mà không đòi hỏi báo đáp, giúp ta có thêm bao nhiêu đức tính cao đẹp mà nếu chúng ta không yêu thì trời yên biển lặng, thiên hạ thái bình (theo kiểu "vắng cô thì chợ vẫn đông, cô đi lấy chồng thì chợ vẫn vui") và chúng ta hoàn toàn chẳng cần quái gì những đức tính tốt đẹp kia mà vẫn sống rất hoành tráng.

Yêu hay không yêu, đó là vấn đề!

Sớm hay muộn thì bạn cũng sẽ hiểu ra một chân lý: Từ khi gặp em, cuộc đời anh như bước từ đêm đen ra ánh sáng chói lòa. Nhưng thú thực anh vẫn thích ở trong bóng tối và sống tự kỉ hơn.

Vì khi bạn đã mù quáng và lầm đường lạc lối, thì ánh sáng chói lòa phỏng có ích gì nếu bạn không có kính râm, và tốt hơn nữa là thêm một cây gậy cho chắc cú?
Takahashi

Tái bút: Tôi nhớ những năm tháng ở Nhật. (日本での歳月が懐かしい。 Nihon de no saigetsu ga
natsukashii) Như dở hơi ấy (all bullshit).

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2017

Xin bạn hãy "tự ái" 自愛

ご自愛ください。
Gojiai kudasai.
Xin bạn hãy "tự ái"?!

自愛(じあい、tự ái) có nghĩa là tự yêu hay tự yêu lấy bản thân, vv.

Vậy câu trên nghĩa là yêu cầu bạn hãy "tự ái"?

"Tự ái" 自愛 trong tiếng Nhật và trong tiếng Việt khác nhau. Trong tiếng Nhật thì "tự ái" nghĩa là hãy trân trọng bản thân tránh bị bệnh tật vv.

Câu này nghĩa là:

お体に気をつけてください。
Xin hãy chú ý tới sức khỏe/thân thể.

"Tự ái" trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt thì "tự ái" là cảm xúc khi lòng tự hào, lòng tự trọng, vv bị tổn thương. Từ này trong tiếng Nhật sẽ nói là:

プライドが高い

Trong đó プライド là pride (Anh ngữ).

Chú ý là "tự ái" và "tự trọng" là khác nhau. Tôi vẫn nói là người có lòng tự ái cao thì lòng tự trọng thấp và ngược lại.

Tự ái tức là lòng tự tôn quá cao không tương xứng với phẩm giá và năng lực.

Những người năng lực yếu kém thì thường lòng tự ái cao. Ngược lại, những người năng lực cao thì lòng tự trọng cao (lòng tự tôn cao).

Lòng tự trọng, hay lòng tự tôn trong tiếng Nhật là 自尊心 JISONSHIN [tự tôn tâm].

Sở dĩ muốn thành công trong cuộc đời phải có lòng tự tôn cao vì lòng tự tôn thường đi kèm với năng lực cao mà. Nên là học tập để nâng cao năng lực phải đi trước. Và thực sự phải phân biệt được "tự ái" và "tự trọng", vì dạo này nhiều người năng lực thấp nhầm lẫn, hay ngụy biện sự tự ái của họ thành lòng tự trọng của họ lắm. Nhưng cơ bản nhìn năng lực của họ là biết thôi.

Người có lòng tự ái luôn để tâm xem người khác nghĩ hay nói gì về mình nhưng rất ít để tâm tới học tập.
Người có lòng tự trọng chỉ tập trong học tập và rèn luyện bản thân mà không để tâm tới người khác nói hay nghĩ gì về mình.

Trời mùa hè đang nóng nên các bạn hãy "tự ái" nhé!
Takahashi

Bổ sung: Lưu ý cách dùng "tự ái" đúng
自愛 đã có nghĩa là trân trọng bản thân rồi nên không dùng với お体 nữa. Nếu dùng sẽ bị lặp kiểu "xin hãy trân trọng sức khỏe của thân thể" vậy.
Hoặc là ご自愛ください。 hoặc là お体に気をつけてください。 or お体を大事にしてください。

Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2017

Bài tập dịch ngữ pháp lớp Cú Mèo N3 20-50

Hãy dùng tài liệu đã phát và nhớ lại bài giảng trên lớp để dịch các câu sau sang tiếng Nhật cho đúng ngữ nghĩa, ngữ pháp và sắc thái. Con số thể hiện số hiệu mẫu ngữ pháp trong tài liệu đã phát.

20
昨日仕事で疲れ切って眠れないほどだった。

実るほど頭を垂れる稲穂かな <ngạn ngữ Nhật Bản>

21
井の中の蛙ほど大海を知らぬ者はいない

彼女ほど美人はいない。

22
いくら努力してもなかなか上達しない。

どんなに水を飲んでものどがまた乾いてしまう。

たとえどんなに働いても生活が楽にならない。

23
ここ数年景気が悪くなる一方だ
国民の生活は苦しくなる一方だ

革命の思想は国民の中にますます広がっていっている。

24
父は自分に厳しい一方で、他人には優しい。

25
不思議なことに、誰もがいないのに、机の上に食べかけのケーキが置いてある。

仕事をやりかけているのでパーティーに行けなさそうだ。

26
性格から言うと、彼はこの仕事に相応しいと思う。

この成績から言えば、東大は無理だろう。

27
いつものご飯の代わりにパンを食べた。

週末は遊びに行く代わりに、うちで休みたい。

入院した社長に代わって会議に出席した。

28
決して東大の夢をあきらめない。

絶対東大に合格する。

絶対に許せない。

必ず夢は叶います。

29
この小説は長すぎて、読み切れない

努力したからといって、必ず成功するとは言い切れない

「こちらの商品はただいま売り切れです。」

30
一度きりの人生を大切に生きることだ

彼とは一回話したっきり連絡がなかった。

31
今日は非常に忙しくて、疲れ切ってしまった。

徹夜して長い小説を読み切った

お金を使い切ったので、稼ぐよりほかない

32
帰国は来週だったっけ

君の誕生日は何月だっけ

パーティーの事、話したっけ

33
愛情があるからこそ、しかるんだ。

明日こそ勉強するぞ!

こちらこそご無沙汰しております。」

苦悩があってこそ人生は完全なものとなる。

34
お金を大切にすること。

勝手に人の部屋に入らないこと。

35
東大に行きたいなら、毎日努力を惜しまずに勉強することだ。

いつまでも元気でいたいのなら、健康的な食品を食べることだ。

Còn, còn nữa, còn mãi!

Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2017

Bài tập dịch ngữ pháp lớp Cú Mèo Dịch Thuật 50-80

Bài tập dịch lớp Cú Mèo.

51
この湖は釣りを禁止することになっている

明日から、ベトナム赴任になった
赴任(ふにん): được cử đi làm việc (thường ở nước ngoài)

52
入院しただけで「働けない」ということにはならない

53
レポートは書いたことは書いたが、インターネットからの丸写しに過ぎない。
丸写し(まるうつし): sao chép y chang

54
あんなひどいレストランは二度と行くまい

そんな人はあるまい

56
このバッグは値段手ごろなら、デザイン可愛い。

57
彼は嵐もかまわず外に出た。

58
言葉が全く分からないものだから、友だちができない。

59
第一印象を悪くするものではない

こんなあつい本は一日で読み切るものではない

60
君の文章にはどうも不自然なものがある

61
金持ちの彼は、そんなにお金を欲するものか

62
うつ病を完治できるものなら、完治したい。

63
一生懸命努力したものの、成功なんかしたことはない。

64
旅行したい。もっともお金があったらね。

65
もう少しで車にひかれるところだった。

危うく階段で倒れるところだったよ。

66
彼女は美人というより、むしろ愛想がいい人だ。

人生は美しい夢なのか。いや、むしろとんでもない悪夢かもしれない。

67
人生は寂しいものだ。誰かを愛しないではいられない

おかしくて笑わずにはいられない

68
やってみないことにはできるかどうかは言い切れない。

69
ご多用恐縮でございますが
お忙しい、失礼いたします
お忙しい中を、失礼いたします

70
やる気はなくはないが、あいつと一緒なら嫌だ。

できなくはないが、面倒だ。

71
長い人生だから、なにもそれほど先の事を真剣に考えなくてもいいんじゃないか。

72
人間は失敗から学ぶものだ。なお、つらい失敗ほどよく学べるものだ。

73
相手の気持ちがわかるには、相手の立場に立たねばならない

74
作業にあたって安全確認をした。

薬を飲むにあたり、副作用を確認せねばならない。

75
彼の期待に反して、彼女は別の男と結婚した。

76
成功か失敗かは運命にほかならない

77
人間は失敗に限らず、成功も恐れるものだ。

78
真冬はカキの土手鍋に限る

牡蠣(カキ)の土手鍋(どてなべ)

79
遠足しようと早起きした今日に限って嵐が来たので、計画が台無しになった。

80
成功するかしないかにかかわらず、普段からコツコツ努力するのが大事だ。

Chúc ngon miệng. À không, chúc dịch ngon nhé.
Takahashi

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

"He rode to a woman’s sigh."

"He rode to a woman’s sigh.
For she was his secret treasure,
She was his shame and his bliss."
"Chàng cưỡi ngựa lên đường vì tiếng thở dài của một người phụ nữ.
Vì nàng là báu vật bí mật của chàng,
Nàng là nỗi hổ thẹn và niềm hạnh phúc tối thượng của chàng."

Bài "Hands of gold" (Đôi bàn tay bằng vàng) trong Game of Thrones, vốn viết về mối tình của Tyrion Lannister với Shae nhưng đột nhiên xuất hiện ở tập 4 mùa thứ 7 có thể là ám chỉ về hiệp sỹ Jaime và Cersei.

Game of Thrones là loạt phim truyền hình trên HBO có đông đảo người hâm mộ nhờ triệt để tính bạo lực, sự khát máu, ái tình và sự phản bội, oan oan tương báo với những màn trả thù tàn độc, rất đúng bản chất và khát khao của con người. Chắc chẳng có tập nào trong phim mà không có ai đó chết thảm, còn nhân dân chỉ bị coi như cỏ rác, là bàn đạp để các bậc quân vương, lãnh chúa bước lên nấc thang quyền lực. Sở dĩ bộ phim có sức lôi cuốn lớn lao trên phạm vi toàn cầu vì khát khao thầm kín của nhân dân đang rên xiết lầm than dưới các chế độ hủ bại cai trị bởi những hôn quân chắc chắn không phải gì khác ngoài bạo lực, tắm máu và đồ sát. Bạo lực là niềm vui lớn nhất của nhân dân lầm than. Hãy cho họ một đại nghĩa (greater cause) để họ chiến đấu, hi sinh và tham gia cuộc Đại Đồ Sát. Để họ thoát thai khỏi thân phận hèn mọn và tính tư lợi nhỏ nhen, để có thể chiến đấu và xả thân nơi sa trường - nơi mà mọi người đều bình đẳng bất kể giai cấp, sang hèn. Vì điều quan trọng không phải là bạn chết như thế nào, mà là chiến đấu vì ai và vì lý tưởng gì.

Game of Thrones được chế tác dựa trên tiểu thuyết "A Song of Fire and Ice" (Băng hỏa trường ca, Bài ca về lửa và băng tuyết). Đây là một trong những bộ phim đáng xem nhất trong thời gian gần đây.

Bài "Hands of gold" trong tập 4 mùa 7 Game of Thrones:


Cùng bài trên nhưng lặp trong khoảng 1 tiếng:


Phiên bản cover:


Lời bài hát
Hands of Gold

He rode through the streets of the city,
Down from his hill on high,
O’er the wynds and the steps and the cobbles, (Over the winds and the steps and the cobbles)
He rode to a woman’s sigh.
For she was his secret treasure,
She was his shame and his bliss.
And a chain and a keep are nothing,
Compared to a woman's kiss
For hands of gold are always cold,
But a woman’s hands are warm.

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2017

Bài tập lớp Cú Mèo N3: Dịch bài hát 残酷な天使のテーゼ

Bài hát: 残酷な天使のテーゼ (zankokuna tenshi no teeze)
テーゼ là [these, tiếng Đức], tạm dịch là "định đề".
Tên bài hát tạm dịch là "Định đề thiên sứ tàn nhẫn".

Here we go:



Từ vựng mới

テーゼ định đề [Đức: these] => mệnh đề đã được định sẵn [triết học]
蒼い=青い xanh [thương]
叩く(たたく) đập, gõ
ただ(只) chỉ
微笑む(ほほえむ) mỉm cười, cười nụ
見つめる(みつめる) nhìn chằm chằm
運命(うんめい) số phận [vận mệnh]
いたいけな ngây ngô
瞳(ひとみ) con ngươi, đồng tử [đồng]
もとめる(求める) tìm kiếm, tìm tòi
夢中(むちゅう)sự mải mê, say sưa => 夢中で、夢中になる
遥か(はるか) xa lắc, xa tít
羽根(はね)đôi cánh
窓辺(まどべ) khung cửa sổ
やがて sắp sửa
飛び立つ(とびたつ) bay đi
ほとばしる(迸る) tuôn trào, phun trào
パトス xúc cảm, cảm xúc chi phối nhất thời [Hi Lạp: pathos]
裏切る(うらぎる) phản bội
揺りかご cái nôi (ru em bé ngủ)
首筋(くびすじ) gáy, vai gáy
閉じこめる(とじこめる)nhốt lại
抱く(だく) ôm
抱きしめる(だきしめる) ôm chặt
バイブル kinh thánh [bible]
(光を)放つ(はなつ) phát ra (ánh sáng)
つむぐ(紡ぐ) dệt sợi
女神(めがみ) nữ thần

Lời bài hát

残酷な天使のテーゼ

歌手:高橋洋子
作詞:及川眠子
作曲:佐藤英敏

残酷な天使のように 少年よ神話になれ

蒼い風がいま 胸のドアを叩いても
私だけをただ見つめて微笑んでるあなた
そっとふれるもの もとめることに夢中で
運命さえまだ知らない いたいけな瞳

だけどいつか気付くでしょう その背中には
遥か未来めざすための羽根があること

残酷な天使のテーゼ 窓辺からやがて飛び立つ
ほとばしる熱いパトスで 思い出を裏切るなら
この宇宙(そら)を抱いて輝く 少年よ神話になれ

ずっと眠ってる 私の愛の揺りかご
あなただけが夢の使者に呼ばれる朝がくる
細い首筋を 月あかりが映してる
世界中の時を止めて閉じこめたいけど

もしもふたり逢えたことに意味があるなら
私はそう 自由を知るためのバイブル

残酷な天使のテーゼ 悲しみがそしてはじまる
抱きしめた命のかたち その夢に目覚めたとき
誰よりも光を放つ 少年よ神話になれ

人は愛をつむぎながら歴史をつくる
女神なんてなれないまま 私は生きる

残酷な天使のテーゼ 窓辺からやがて飛び立つ
ほとばしる熱いパトスで 思い出を裏切るなら
この宇宙を抱いて輝く 少年よ神話になれ

Bài tập lớp Cú Mèo N3 - Ngữ pháp 11 - 20

Dịch ra tiếng Việt, vận dụng các mẫu ngữ pháp đã học từ 11 tới 20.

1 ほど
Hôm qua nằm mơ gặp ma sợ gần chết.

2 ほど
Càng gần mực càng đen. Càng gần đèn càng cháy! ^^

3
Chắc chắn là ba sắp sửa về nhà rồi.
sắp sửa = sorosoro

4
Hôm nay tôi (cảm thấy) hơi mệt nên tôi có thể được anh cho phép về sớm không ạ?

5
Việc anh ta nói thì khó mà có thể tha thứ được.

6
thường hay cúp học đi chơi lắm.
(khuynh hướng tiêu cực)

7
Tôi giả vờ đang ngủ say không biết gì.

8
Cho dù có làm việc cố gắng hết sức như thế nào đi chăng nữa thì cuộc sống cũng không thoải mái hơn.
Ghi chú: đi chăng nữa = たとえ

9
Cho dù có uống bao nhiêu thì anh ấy sắc mặt vẫn không thay đổi.
sắc mặt = 顔色(かおいろ)

10
Nó còn chưa chắc đã vô được đại học chứ lấy đâu ra mà vào Tô-đai. ^^

11
Phòng này ngập (đầy) rác và ma túy.

Hãy lau sạch những cuốn sách dính đầy bụi.

12
A: Cậu giận tớ à?
B: Có gì đâu. (Có giận gì đâu chứ)

Sẽ quiz ở trên lớp khi có thời gian nhé.
Takahashi

"Kính viễn" 敬遠 nghĩa là gì?

敬遠 KÍNH VIỄN
Ngoài mặt thì tỏ ra tôn kính (敬る uyamaru) nhưng tránh việc lại gần (遠 viễn).
けいえん
【敬遠】
《名・ス他》表面はうやまったような態度をして、近づくのをさけること。意識してさけること。

"Kính viễn" có nghĩa là "giữ khoảng cách" hay "xa lánh".

Lưu ý là "kính viễn" trong tiếng Nhật không phải là "kính chữa tật viễn thị" ngược nghĩa với "kính cận" (kính chữa tật cận thị) nhé. Mặc dù "kính viễn" tiếng Nhật và "kính viễn" tiếng Việt thì cũng gây kết quả giống nhau: Phải đứng từ xa mà nhìn. Nhưng lý do thì khác nhau, "kính viễn" trong tiếng Nhật là do bạn không thích ai đó nên giữ khoảng cách, còn "kính viễn" trong tiếng Việt thì là vì bạn đứng xa để ... nhìn cho rõ hơn!

Ví dụ:
口うるさいので周囲から敬遠される
上司だからといって小言ばかりだと敬遠される

小言(こごと) càm ràm, phàn nàn

Trong tiếng Việt cũng dùng "kính nhi viễn chi" (敬而遠之) cùng nghĩa từ này.
Ví dụ:
Người ta có câu "chơi với vua như đùa với cọp" nên tôi chỉ dám "kính nhi viễn chi" mà thôi.

Dịch "hạnh kiểm" và "xếp loại hạnh kiểm" sang tiếng Nhật

"Hạnh kiểm" không phải là "đạo đức" (道徳). Để dịch "hạnh kiểm" sang tiếng Nhật thì chúng ta nên tra ra tiếng Anh trước, đó là "conduct, behavior".

"Hạnh kiểm" có nghĩa là hành vi thường ngày nhìn từ quan điểm đạo đức. Trong tiếng Nhật "conduct" là 品行(ひんこう、 phẩm hạnh).

Do đó, hạnh kiểm có lẽ là 品行。

品行が良い hạnh kiểm tốt
品行が悪い hạnh kiểm xấu

Còn "xếp hạng" trong tiếng Nhật là 格付け(かくづけ)

Xếp hạng hạnh kiểm = 品行の格付け

Tôi đoán vậy ^^

Dịch câu sau ra tiếng Nhật:

Về mặt giáo dục, việc xếp hạng hạnh kiểm học sinh là không tốt.
Tôi được cho tốt nghiệp vì hạnh kiểm xấu.
Takahashi

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

Bài tập lớp Cú Mèo Dịch Thuật

Dịch các câu sau:

Đằng nào cũng sẽ rớt nên khỏi học.

Về mặt tiền bạc mà nói thì đây là công việc tốt.

Về mặt giáo dục, việc xếp hạnh kiểm học sinh là không tốt.

Nó bỏ học trái với mong muốn của cha mẹ.

Âm mưu của hắn ngược lại lại gậy ông đập lưng ông.
gậy ông đập lưng ông, phản tác dụng = 裏目に出る

Tôi sửa máy tính nhưng trái lại thì nó lại hỏng thêm.

Cuộc sống đi làm cũng không tệ lắm miễn là bạn sống nghiêm túc và giả dối. ^^ (lời khuyên thật lòng)

Bố tôi nói rằng miễn là còn khỏ thì evẫn muốn đi cướp nhà băng.

Ăn được một bát cháo nên cũng bõ công chạy ba quãng đồng bạn nhỉ? ^^ (nói mát, nói kháy ^^)

Chuông vừa reo một cái là nó phi ra khỏi lớp.

Chúng mình đi xem phim hay gì đó không.

Vì đây là phim Hàn nên rất có thể nhân vật nữ chính sẽ chết vì ung thư ở giữa phim!

Chúng tôi vô cùng xin lỗi nhưng không thể nào đáp ứng yêu cầu của quý khách được ạ.

Anh ấy chính vì đã cố quá nên đã thành ra quá cố. ^^ (bài học cảnh giác)

Cách làm: Vận dụng các mẫu ngữ pháp đã học hôm nay, hay chính xác là hôm qua.
Takahashi

Từ vựng bài "Thành công thì 90% là do số" ^^

運 vận, số
時折 = 時々
一帯 = 一面 trải dài toàn bộ
配給 cấp phát, phần cấp phát
ヤミ取り引き giao dịch chợ đen
闇市場(やみしじょう) = chợ đen
不法な bất hợp pháp
断じて (một cách) kiên quyết
栄養失調 suy dinh dưỡng
内緒 bí mật, lén lút
やっとの思いで 
長い時間や苦労を経て、ようやく、といった感慨を意味する表現
ようやくの思いで。 「 -借金を返す」
nghĩ đủ cách
わずかな chút ít, ít ỏi
飢えをしのぶ(忍ぶ) chịu được qua cơn đói
いずれも=どちらも
戯れ楽しむ(たわむれたのしむ) vui chơi nhảy múa
知恵才覚(ちえいさいかく) trí tuệ và sự nhanh nhạy
自然のことわり(自然の理) cái lý của tự nhiên
則した(そくした) tuân theo, tuân thủ
営み=行為
sinh hoạt, hoạt động, hành động.
営む=忙しく物事をする。怠ることなく励む。「社会生活を―・む」

ひるがえって(翻って) [tạm dịch] ở chiều ngược lại thì ...

自然の摂理
自然界を支配している法則
Nhiếp lý của tự nhiên là những quy tắc chi phối giới tự nhiên. Ở đây là quy luật vận động của tự nhiên.
自然の理法
道理にかなった法則。
Lý pháp tức là định luật, luật lệ phù hợp với đạo lý, lẽ tự nhiên. Ở đây là lẽ tự nhiên (luật lệ của tự nhiên).
みずから(自ら) tự mình (không do ai xúi bẩy)
小ざかしい(こざかしい、小賢しい) nhỏ mọn

工夫努力 (công phu nỗ lực)

Nỗ lực làm cho mọi thứ trở nên tốt hơn ^^ Làm cho nó công phu vào! Bạn công phu thật đấy.


・・・わけだ。
Trong bài này nghĩa là "quả nhiên là, quả đúng là" (đúng như đạo lý được kỳ vọng ^^).


Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2017

Dịch "không biết làm gì với X" sang tiếng Nhật

Các bạn muốn học dịch thuật tiếng Nhật có thể đăng ký Lớp Dịch Cú Mèo Saromalang.

không biết làm gì với X = Xを持て余す(もてあます)

Ví dụ:
Tôi đã từng tốt nghiệp đại học hàng đầu và không biết làm gì với cuộc đời của mình.
私はかつて一流大学を卒業して自分の人生を持て余していた

>>Xem cách dịch "đã từng" trong tiếng Nhật

一流大学(いちりゅうだいがく, nhất lưu đại học) là "đại học hàng đầu". Bên cạnh 一流大学 còn có 二流大学、三流大学 nữa. Hãy dịch ra tiếng Việt và hãy phân tích ý nghĩa của câu trên.

Ví dụ khác là trong bài hát "Người ngoại quốc xa lạ":
あとは悲しみをもてあます 異邦人
Ato wa kanashimi wo moteamasu ihoujin

Tra từ điển
もて‐あま・す【持て余す】 の意味
出典:デジタル大辞泉
[動サ五(四)]取り扱い方や処置に困る。もちあつかう。「むずかる子を―・す」「暇で時間を―・す」「長い手足を―・す」

Bài tập:
1) Phân tích ngữ nghĩa "không biết làm gì với X"
2) Phân tích ngữ nghĩa của 持て余す
3) Dịch sang tiếng Nhật: Người mẹ không biết làm gì với đứa con của mình.

Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017

"Chính khí"

Từ vựng: 正気 [chính khí]
Đọc: しょうき
Ý nghĩa: 正常な心。確かな意識。「正気を失う」「正気に返る」「正気の沙汰 (さた) とは思えない」

Bài tập 1: Hãy dịch "chính khí" ra tiếng Việt.

Bài tập 2: Dịch đoạn văn sau ra tiếng Việt (đã sửa lỗi đánh máy, bài từ Yahoo Japan Hỏi Đáp).
(Sẽ có thể dùng bài này ở Lớp Cú Mèo Dịch Thuật)

うちの妻、正気でしょうか?
私は47歳、妻は45歳です。
結婚8年目 6歳と3歳の子供がおり、妻は妻の希望で寿退社をして専業主婦をしています。

4年前に住宅ローンを組んでですが、戸建のマイホームを購入しました。
8軒の新築分譲なので、だいたいどの家も経済的には同じような感覚のお宅が多いように思います。
男性の私から見ると、どこの家の方も会えば感じよく挨拶をしますし、住みやすい環境だと思っています。

妻も最初はそうだったようですが、ここ半年ぐらい、やたらとご近所を意識するようになってきてしまいました。

Thế nào là 未練 MIREN [vị luyện]? Làm sao để quá khứ ngủ yên?

Trong tiếng Nhật có một số từ mà nhìn hán tự cũng không hiểu nghĩa là gì, và 未練 [vị luyện] là một từ như thế.

"Vị" là chưa, ví dụ 未来 (vị lai = tương lai)、未成年 (vị thành niên)、未知 (vị tri = chưa biết)
"Luyện" là 練習 (luyện tập)、老練 (lão luyện)

"Vị luyện" là cảm giác lưu luyến (với tình cũ) không dứt được. Tóm lại là không để quá khứ ngủ yên được ^^

[名・形動]
1 執心が残って思い切れないこと。あきらめきれないこと。また、そのさま。「未練が残る」「過去に未練はない」「未練な気持ちを引きずる」
2 熟練していないこと。また、そのさま。未熟。
「船軍は―なるべし」〈盛衰記・四三〉

未練が残る = vẫn còn lưu luyến
過去に未練はない = không còn lưu luyến với quá khứ
未練な気持ちを引きずる = kéo dài mãi cảm xúc lưu luyến

Khi chia tay thì bạn thường gặp phải "vị luyện" MIREN. Miren có thể sẽ làm bạn đau khổ, hoặc đơn giản là không bắt đầu được cuộc sống mới.

Do đó, điều quan trọng là biết cách làm cho quá khứ ngủ yên.

Gần đây trên tạp chí Đông Dương Kinh Tế có bài viết:
男はみんな「元カノの成分」でできている Đàn ông tất cả đều được tạo nên bởi "thành phần bạn gái cũ"
43歳男性が忘れられない人を思い出すとき Khi người đàn ông 43 tuổi nhớ về người không thể quên được

Tất nhiên là バカ ^^ Chỉ ông ấy thôi mà lại đi kết luận là 「男はみんな」。

Cả bài viết là cảm giác MIREN, lưu luyến tình cũ, thật ra ổng viết cả sách tiêu đề trên để bán, nhưng nhận được rất nhiều gạch đá. Người Nhật comment thì cũng khá vui, khác hẳn người VN.

Tóm lại thì có người quên quá khứ và có người không. Tôi thuộc diện quên sạch (tức là 綺麗さっぱり忘れるタイプ). Trên đời chia ra hai kiểu người:

Kiểu 1: Ghi đè (上書き uwagaki, overwrite)
Kiểu 2: Lưu thêm (別名保存 betsumei hozon, save as)

Kiểu 2 "Lưu thêm" thì hay lưu luyến người cũ, còn Kiểu 1 thì thường là quên sạch. Vì thế, ngay cả khi bạn lưu  luyến tình cũ thì chưa chắc tình cũ đã lưu luyến bạn, vì nếu hai người vẫn lưu luyến nhau thì đã không chia tay đúng không?

Nếu bạn là người lưu luyến thì hầu như chắc chắn là người kia sẽ quên sạch. Hai kiểu người trên sẽ dẫn tới hành động khác nhau:

Kiểu ghi đè: Không liên lạc người cũ mà chỉ tập trung vào mối quan hệ hiện tại.
Kiểu lưu thêm: Vẫn liên lạc với tình cũ với tư cách bạn bè.

Bởi vì kiểu lưu thêm sẽ luôn nghĩ là bản thân 元恋人の成分でできている (bản thân được tạo nên bởi thành phần người yêu cũ).

Còn kiểu ghi đè thì chỉ nghĩ đơn giản là ああ、そうか (à, vậy à).

"Vị luyện" hay dùng theo cách:
未練たらたら lưu luyến dông dài
未練たらしい lưu luyến mãi không thôi = 未練がましい

Mặc dù người ta nói rằng kiểu lưu thêm (kiểu người lưu luyến) thường là nữ giới, kiểu ghi đè (kiểu người không lưu luyến) thường là nam giới, nhưng theo tôi thì không nhất định thế. Thật ra thì nam hay nữ đều có hai kiểu điển hình trên.

Thậm chí, tôi còn là cả hai loại trên, ban đầu tôi là kiểu lưu luyến, sau này tôi chuyển sang kiểu không lưu luyến.

Lưu luyến hay không lưu luyến thì tốt hơn?

Vì sao con người lại chia ra hai kiểu lưu luyến (ghi thêm) hay không lưu luyến (ghi đè)? Đơn giản là do họ có bị thiếu thốn tình cảm của cha mẹ thời thơ ấu không thôi.

Tôi có thể ghi đè vì tôi không cảm thấy cô đơn mấy như những người khác, vì tôi không thiếu thốn tình thương. Tôi thậm chí còn trở thành bác sỹ tâm lý nữa ý chứ.

Những người thiếu thốn tình thương cha mẹ thường rơi vào tình trạng lưu luyến. Do đó, về cơ bản thì không lưu luyến thì tốt hơn là lưu luyến.

Đừng có 元恋人の成分でできている (bản thân được tạo nên bởi thành phần người yêu cũ) vì như thế nghe chẳng chủ động và chẳng tự tôn gì mấy ^^

Nhưng nếu tuyệt đối hóa chuyện không lưu luyến thì cũng không phải là điều nên làm.

Bởi vì người có nhiều tình cảm và nhớ nhiều hơn thì sẽ giữ gia đình tốt hơn. Người không lưu luyến có xu hướng "bỏ của chạy lấy người" nhiều hơn, vì họ ít đau khổ hơn. Để duy trì gia đình thì đôi khi bạn cũng cần lưu luyến một chút. Nếu không thể, hãy cố gắng lưu luyến ^^

Người lưu luyến thường đau khổ hơn nên họ cố gắng giữ gia đình tốt hơn. Tóm lại là hãy sống đúng bản chất thôi, đấy mới là vương đạo (王道).

Về làm sao để quá khứ ngủ yên thì đừng lưu luyến, hãy tập trung vào lý tưởng mà bạn theo đuổi. Do đó, việc học tập từ thời trẻ, học tập cả đời sẽ có tiếng nói quyết định trong việc bạn tìm ra lý tưởng để theo đuổi, và bạn không bị phụ thuộc tình cảm cá nhân nữa. Học tập và công việc chính là chìa khóa của sự giải thoát. Tôi vẫn nói như vậy ngay từ khi còn trẻ!
Takahashi